trực tuyến [TRỰC TIẾP] "4 thứ khó có được ở đời" | Thầy Thích Trúc Thái Minh, ngày 08/11 Canh Tý
Giới thiệu Tin tức Bài viết Phật giáo Pháp âm Nghi lễ Câu chuyện chuyển hóa Truyện tranh Phật giáo Tu học của Tăng chúng Giải đáp thắc mắc Videos Thư viện ảnh Đăng ký khóa tu Tam Tạng Kinh Điển
Ý nghĩa của ba la mật: Pháp tu giúp vượt qua mọi đau khổ, đạt đến an lạc tuyệt đối

Ba la mật là pháp tu mà những bậc Bồ tát theo đuổi tâm nguyện độ thoát chúng sinh cần thực hành, để hướng tới quả vị Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Tuy nhiên, người tại gia chúng ta cũng có thể tập thực hành các pháp ba la mật phù hợp với căn cơ như bố thí, nhẫn nhục, trí tuệ,... Nhờ thực hành những pháp tu này mà phước báu vô lượng sẽ phát sinh; đồng thời thành tựu được mọi mong cầu chính đáng.

Kính mời quý vị cùng đón đọc bài viết dưới đây để hiểu về ý nghĩa của các pháp ba la mật  và biết cách ứng dụng những giá trị tốt đẹp này vào cuộc sống, để được phước báu lớn!

Các pháp ba la mật trong nhà Phật

- Theo kinh điển Đại thừa: Có 6 pháp ba la mật (còn gọi là lục độ ba la mật), gồm: 

(1) Bố thí ba la mật: Là tam luân không tịch, tức không thấy mình là người cho, không cần biết người nhận và không chấp trước vào vật thí.

(2) Trì giới ba la mật: Giữ đủ mọi giới luật, tu tập các pháp khổ hạnh đúng như Phật dạy và thường quán xét các pháp ngã và vô ngã, khiến năm căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ) không bị năm trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) làm hại.

(3) Nhẫn nhục ba la mật: Chấp nhận việc bị người ác hại vô số lần và không rời tâm cứu độ, sẵn sàng giúp họ giác ngộ nhân quả.

(4) Tinh tấn ba la mật: Tinh tấn bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ; tinh tấn loại trừ chấp ngã, thực hành các pháp vô ngã và khuyến khích mọi người thực hành lục hòa.

(5) Thiền định ba la mật: Là ở bất cứ đâu cũng thiền định vào tướng không. Muốn vậy, ta phải thường quán chiếu về nhân duyên và vô ngã (tức thấy được tất cả pháp giới do duyên sinh rồi do duyên diệt, không gì là thật có).

(6) Trí tuệ ba la mật (tuệ quán ba la mật): Thấy rõ sự sinh diệt của các pháp và sự sinh diệt trong từng tâm niệm; biết dùng trí tuệ cắt đứt mọi sợi dây phiền não, đau khổ.

- Theo kinh điển Nguyên thủy: Có 10 ba la mật (thập độ ba la mật), cơ bản giống 6 ba la mật trong kinh điển Đại thừa, nhưng có bổ sung thêm các pháp ba la mật sau: xuất gia, chân thật, quyết định, tâm từ, tâm xả.

Đức Phật thành đạo với các công hạnh ba la mật viên dung (ảnh minh họa)

Ý nghĩa của ba la mật

1. Đối với người xuất gia

Bậc tu hành phạm hạnh, theo đuổi tâm nguyện độ thoát chúng sinh phải thực hành 6 hay 10 hạnh ba la mật nêu trên. Nhờ vậy mới có thể vượt sinh tử luân hồi và đạt được giải thoát Niết bàn.

Trong vô lượng kiếp, Đức Phật đã thực hành vẹn tròn các công đức ba la mật. Cho nên, đến kiếp cuối cùng, Ngài đã thành tựu được quả vị Vô thượng Bồ đề. 

Trong Kinh Bố Thí Thân Mạng Cầu Vô Thượng Bồ Đề cũng ghi lại sự kiện vương tử Tát-đỏa (tiền thân Đức Phật Thích Ca) bố thí thân mạng cho đàn hổ đói. Qua đó thấy được sự cao thượng và không cầu danh lợi của Bồ tát khi hành trì bố thí ba la mật. Với tâm chân thật cầu Vô thượng đạo, Ngài xả ly tuyệt đối, không tiếc thân thể và tính mạng của mình.

Vương tử Tát-đỏa xả thân mạng cứu đàn hổ đói (ảnh minh họa)

2. Đối với Phật tử tại gia

- Nhân để được đầy đủ: Theo lời Phật dạy, khi bố thí và làm các việc phước thiện nơi Tam Bảo, chúng ta sẽ có quả phước tài sản sung túc. Còn nhân của nghèo khổ là xan tham, bỏn xẻn, keo rít và không biết giúp đỡ người khác.

- Được phước báu vô lượng: Nhờ thực hành pháp bố thí ba la mật với tâm thanh tịnh, phước báu vô lượng vô biên sẽ phát sinh tới chúng ta ngay hiện đời.

- Phá bỏ bản ngã: Thực hành bố thí ba la mật, tức không thấy mình là người bố thí, không thấy người nhận thí, không thấy vật thí, giúp chúng ta trừ tâm kiêu mạn, tâm coi thường người khác và chấp trước vào vật thí.

- Thành tựu mọi mong cầu: Như trong bài kinh Bố Thí Hai Mắt Lại Được Thiên Nhãn, Tỳ-kheo Na Tiên có nói: Nếu chân thật ba la mật và nguyện lực ba la mật được kết hợp thành một khối nhất như, gọi là “nguyện lực chân thật” thì bất cứ chuyện gì trên thế gian cũng đều được thành tựu như ý muốn.

4 pháp ba la mật mà Phật tử tại gia nên thực hành

1. Bố thí ba la mật

- Làm quen với việc bố thí: Người đệ tử tu học Phật phải thực tập bố thí đầu tiên. Quen với việc bố thí hàng ngày sẽ giúp chúng ta dần tiến tới bố thí ba la mật. 

- Ví dụ: Trao gửi cho mọi người đồng tiền, bát gạo, áo quần; hiến máu, dùng sức lực giúp người; trao đi nụ cười, một lời nói hay, một cử chỉ đẹp; làm việc phúc thiện nơi Tam Bảo;...

2. Trì giới ba la mật

Để cầu Vô thượng Bồ đề và nhiếp phục chúng sinh, Phật tử tại gia chúng ta nên chăm chỉ thực hành ngũ giới (5 giới) và bát quan trai giới (8 giới). 

3. Nhẫn nhục ba la mật

- Nhẫn nhục để tiến tu: Trên bước đường tu học, nếu gặp chướng cảnh hay người ác hại mình thì ta cần khéo nhìn nhận và khéo tu; nhờ vậy sẽ chuyển được nghịch duyên thành thắng duyên (còn gọi là “nghịch tăng thượng duyên”).

- Dẫn chứng kinh điển: Dù Đề Bà Đạt Đa làm nhiều chuyện như vu oan, lăn đá, thả voi say hại Phật, Đức Phật vẫn tuyên bố rằng: “Do nhờ ông Thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho Ta đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười Trí lực, bốn món Vô sở úy, bốn món Nhiếp pháp, mười tám pháp Bất cộng, Thần thông đạo lực, thành bậc Đẳng Chánh giác rộng độ chúng sinh, tất cả công đức đó đều là nhơn Thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả”.

Nếu ta tu được trong nghịch cảnh thì sẽ tiến bộ nhanh hơn trong thuận cảnh (ảnh minh họa)

4. Trí tuệ ba la mật

Thực hành trí tuệ ba la mật là khi có người làm ác với mình thì ta biết yêu thương và tha thứ cho họ, vì biết đây nguyên nhân dẫn họ đến quả báo đau khổ. Từ đó tư duy các biện pháp giúp họ dừng ác. 

Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về ba la mật. Mong rằng, bài viết này giúp quý bạn đọc hiểu thêm về ý nghĩa và cách thực hành các pháp ba la mật đối với người tại gia, để được những điều tốt đẹp ngay hiện tại!

Bài liên quan