Nhật Tụng Thiền Môn Chùa Ba Vàng

Mời quý Phật tử tải bản PDF Nhật Tụng Thiền Môn Chùa Ba Vàng tại đây!

Lời Nói Đầu

Giáo pháp của Phật để lại cho chúng ta tụng đọc, không phải để tụng cho hay, càng không phải để tụng cho Phật nghe. Mục đích chính của việc tụng đọc kinh điển là để hiểu nghĩa kinh và hành trì theo những lời Phật dạy, đi đến thành tựu được giác ngộ, giải thoát. Đã bao lâu nay, chúng ta chỉ lấy tụng kinh làm công khóa tu hành và coi như vậy là đã đầy đủ sự tu tập Phật Pháp. Chúng ta tụng hết bộ kinh này, lại tụng đến bộ kinh khác, không cần tìm hiểu nghĩa kinh ra sao, miễn rằng tụng đọc được nhiều là tốt. Đây quả là một sự lầm lạc và thiếu sót biết bao!

Lục tổ Huệ Năng có dạy: “Tụng kinh không hiểu nghĩa, cùng kinh trở thành thù” là để chỉ rõ lỗi này cho chúng ta vậy. Không những hiểu được nghĩa kinh mà còn đem ra thực hành mới thật là chúng ta chuyển kinh.

Chùa Ba Vàng soạn bộ Nhật Tụng này, không ngoài mục đích để Phật tử đọc tụng, dễ hiểu và có thể thực hành theo được. Chúng tôi thay bài “Bát Nhã tâm kinh” bằng bài “Bát Đại nhân giác”. Bởi vì bài “Bát Nhã tâm kinh” đối với hàng sơ cơ, ít học quả thật không dễ gì thâm nhập. Bài kinh “Bát Đại nhân giác”, Phật dạy những điều rất căn bản cho sự tu tập và dễ quán chiếu để đi đến giác ngộ. Sau phần sám hối là phần tụng kinh. Chúng tôi sử dụng các bài kinh “Pháp cú Thí dụ” có nội dung rất gần gũi, thiết thực và phổ thông đại chúng dễ hiểu, dễ thực hành.

Với tâm nguyện đem giáo pháp của Phật Đà vào cuộc sống, chuyển hóa khổ đau thành an lạc, xây dựng Tịnh độ ngay tại nhân gian này, chúng tôi rất mong quý đại chúng học, hiểu sâu Chính pháp và tinh tấn hành trì. Đó mới chính là sự báo đền ơn chư Phật thiết thực và sâu sắc nhất.

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng ta vững bước trên con đường đi tới quả vị Vô thượng Bồ đề.

Tỳ kheo Thích Trúc Thái Minh

Nghi Khóa Công Phu Khuya

Thỉnh Đại Hồng Chung

Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ,

Trí tuệ lớn, Bồ Đề sinh,

Lìa địa ngục, thoát vô minh,

Nguyện thành Phật, độ chúng sinh.

Nam mô Giáo chủ Cõi U Minh Bồ tát Địa Tạng Vương. (3 lần)

Thâu Đại Hồng Chung

Hồi chuông đã mãn,

Nguyện cho chúng sinh,

Ra khỏi biển mê,

Lần lên bờ giác.

Nam mô Bồ tát Địa Tạng Vương, hằng cứu khổ chúng sinh. (3 lần)

Kích Mộc Bản

Nam mô A Di Đà Phật. (3 lần)

Vầng ô sắp hé phương đông,

Lờ mờ mặt đất ánh hồng rạng soi.

Tự tâm xúc cảnh đổi dời,

Muôn màu ngàn sắc mắt người choáng đi.

Xác phàm đắm chấp làm chi,

Cất đầu tỉnh dậy tu trì sớm mai.

Chuyên cần sáu niệm không sai,

Sao cho công quả tương lai tròn đầy.

Kính lễ đức Thường Tinh Tiến Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Bài Cảnh Sách Tịnh Nghiệp

Bài cảnh sách trong nhà Tịnh nghiệp,

Tuân lời vàng cổ triết Thiền tông,

Muốn tu Tịnh độ thành công,

Cốt sao ba nghiệp sạch trong làu làu.

Thân, khẩu, ý trước sau tinh khiết,

Thời hiện tiền tịnh nghiệp mới lên,

Trau dồi ba nghiệp chưa chuyên,

Vãng sinh Tịnh độ nhân duyên lu mờ.

Ngày đêm phải sáu thời tinh tiến,

Ý, miệng, thân ba nghiệp cần chuyên,

Thân cần lễ bái tọa Thiền,

Miệng cần phúng tụng lặng yên ít lời.

Ý cần chuyên không rời tịnh niệm,

Ðêm và ngày kế tiếp không ngơi,

Mới hay Tịnh độ hiện thời,

Rõ ràng tam muội sáng ngời tự tâm.

Ngoài sáu thời chuyên tâm tu tập,

Không chuyện trò đón tiếp vãng lai,

Nếu còn giao thiệp bề ngoài,

Chỉ e tịnh nghiệp phí hoài công phu.

Quy ước ấy ai dù không giữ,

Ngôi chủ đường xét cử phạt ngay,

Ba lần can gián cố chây,

Thời mời ra khỏi nhà này không dung.

(Đánh 2 hồi khánh xá )

Khóa Lễ Phật

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính,

Gửi theo đám mây hương,

Phảng phất khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo.

Thề trọn đời giữ đạo,

Theo tự tính làm lành,

Cùng pháp giới chúng sinh,

Cầu Phật từ gia hộ.

Tâm Bồ đề kiên cố,

Chí tu đạo vững bền,

Xa biển khổ nguồn mê,

Chóng quay về bờ giác.

Nam mô Bồ tát Hương Cúng Dường. (3 lần)

TÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loài.

Quy y trọn một niệm,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Xưng dương cùng tán thán,

Ức kiếp không cùng tận.

QUÁN TƯỞNG

Phật – chúng sinh tính thường rỗng lặng.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Lưới đế châu ví đạo tràng.

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện.

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tận hư không Biến pháp giới Quá, Hiện, Vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường trụ Tam Bảo.

XƯNG DƯƠNG NHƯ LAI HIỆU:

Nam mô Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

NHẤT THIẾT CUNG KÍNH – NHẤT TÂM KÍNH LỄ:

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Bà Thi Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Thi Khí Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Xá Phù Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Câu Lưu Tôn Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Diếp Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Di Lặc Tôn Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

(Đại chúng đồng lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Pháp giới Tạng thân A Di Đà Phật.

(Đại chúng đồng quỳ tụng sám hối)

SÁM THẬP ÁC

Đệ tử chúng con một lòng thành,

Xin giãi bày tội lỗi xưa nay,

Xét con tạo ác đã dày,

Vì ngu, tham, giận mà gây thói tà.

Thân, miệng, ý sinh ra mọi tội,

Suy cho cùng đều bởi sáu căn.

Mắt ưa sắc, lưỡi tham ăn,

Tai say mê tiếng, mũi thuần mến hương.

Thân thích xúc, lòng vương mọi pháp,

Hợp cùng nhau tạo ác vô cùng,

Xấu xa chất chứa đầy lòng,

Hại người, hại vật thật không thiếu gì.

Lòng tham giận ngu si điên đảo,

Miệng điêu ngoa trở tráo trăm chiều,

Bỗng dưng thường đặt lên điều,

Ăn không nói có dệt thêu hại người.

Hết nguyền rủa lại lời độc ác,

Chẳng khác gì Càn Thát, Ma Vương,

Thân còn trộm cắp đủ đường,

Tham tàn giết hại chẳng thương muôn loài.

Thói nguyệt hoa đêm ngày say đắm,

Làm bao điều rối loạn nhân luân,

Nay con thẹn hổ muôn phần,

Vì mê nên đã trầm luân bao đời.

Thân chẳng khác bèo trôi sóng vỗ,

Chịu đắm chìm biển khổ sông mê,

Bấy lâu chưa biết đường về,

Cam lòng theo nghiệp dắt đi đủ đường.

Chư Phật rộng lòng thương con dại,

Muốn cứu con thoát khỏi luân hồi,

Gắng công cầu đạo không ngơi,

Trải bao cay đắng chẳng lui chuyển lòng.

Tổn tính mệnh cũng không hề tiếc,

Nguyện đời đời độ hết chúng sinh,

Con nay dốc một lòng thành,

Cúi xin giải tỏ tội tình của con.

Bằng tơ tóc chẳng còn dám giấu,

Sám hối cầu Tam Bảo chứng minh,

Trước cầu sạch tội của mình,

Sau xin cho cả chúng sinh mọi loài.

Bao tội lỗi đồng thời giải thoát,

Dốc lòng thành xin Phật rộng thương,

Từ nay chẳng dám tưởng màng,

Gây lên tội ác để mang sau này.

Việc phúc thiện đêm ngày xin gắng,

Đạo Bồ đề nguyện chứng không lui,

Được rồi xin độ muôn loài,

Đều cùng thành Phật đời đời yên vui.

Xin cho con được như lời,

Sám hối phát nguyện đã rồi,

Con xin lễ Phật cùng mười phương Tăng.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Thập phương Pháp giới Thường  trụ Tam Bảo. (3 lễ)

HÔ THIỀN

Canh năm Bát Nhã chiếu vô biên,

Chẳng khởi một niệm khắp tam thiên.

Muôn thấy chân như tính bình đẳng,

Dè dặt sinh tâm trước mắt liền.

Lý diệu ảo huyền khôn lường được,

Dụng công đuổi bắt càng nhọc mình,

Nếu không một niệm mới thật tìm,

Còn có tâm tìm còn chẳng biết.

Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni. (3 lần)

(Đại chúng xả Thiền rồi vào tụng Kinh)

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT:

Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI:

Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA:

Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ:

Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM:

Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU:

Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY:

Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM:

Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

Công phu công đức có bao nhiêu,

Con xin lấy đó hồi hướng về,

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.

Nguyện đem công đức tu hành này,

Chan rải mười phương khắp tất cả,

Hết thảy chúng con cùng các loài,

Đồng được lên ngôi Vô Thượng giác.

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thay không ngại.

(Đại chúng đứng dậy xá Phật, chào nhau rồi lui ra)


NGHI THỨC TỤNG KINH

SÁM CHUYỂN HÓA

(Tụng vào tối 08, 14, 30 hoặc 29 tháng thiếu)

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính,

Gửi theo đám mây hương,

Phảng phất khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo.

Thề trọn đời giữ đạo,

Theo tự tính làm lành,

Cùng pháp giới chúng sinh,

Cầu Phật từ gia hộ.

Tâm Bồ đề kiên cố,

Chí tu đạo vững bền,

Xa biển khổ nguồn mê,

Chóng quay về bờ giác.%

Nam mô Bồ tát Hương Cúng Dường. (3 lần)

TÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loài.

Quy y trọn một niệm,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Xưng dương cùng tán thán,

Ức kiếp không cùng tận.

QUÁN TƯỞNG

Phật chúng sinh tính thường rỗng lặng.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Lưới đế châu ví đạo tràng.

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện.

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tận hư không Biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sa bà giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây phương giáo chủ Cực lạc Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần) .

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT:

Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI:

Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA:

Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ:

Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM:

Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU:

Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY:

Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM:

Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

LỄ PHẬT VÀ LỄ TỔ

Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.

Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.

Chí tâm đảnh lễ: Vị Lai Phật Di lặc Tôn.

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Tây phương Phật A Di Đà.

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Đông phương Phật Dược Sư Lưu Ly.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Lực Đại Thế Chí.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Tuệ Bích Phổ Giác.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư.

( đại chúng đồng quỳ )

SÁM CHUYỂN HÓA

Trang nghiêm đài sen ngự tọa,
Đại hùng Từ phụ Thích Ca,
Đệ tử lắng lòng thanh tịnh,
Bàn tay chắp thành liên hoa.
Cung kính hướng về Điều Ngự
Dâng lời sám nguyện thiết tha.

Đệ tử phước duyên thiếu kém,
Sống trong thất niệm lâu dài,
Không được sớm gặp Chính Pháp,
Bao nhiêu phiền lụy đã gây,
Bao nhiêu lỡ lầm vụng dại,
Vô minh che lấp tháng ngày.

Vườn tâm gieo hạt giống xấu,
Tham, sân, tự ái dẫy đầy,
Những nghiệp sát, đạo, dâm,vọng,
Gây lên từ trước đến nay.
Những điều đã làm, đã nói
Thường gây đổ vỡ hằng ngày,
Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng,
Nguyện xin sám hối từ đây.

Đệ tử thấy mình nông nổi,
Con đường chính niệm lãng xao,

Chất chứa vô minh phiền não,
Tạo nên bao nỗi hận sầu;
Có lúc tâm tư buồn chán,
Mang đầy dằn vặt lo âu,
Vì không hiểu được kẻ khác,
Cho nên hờn giận, oán cừu;
Lý luận xong rồi trách móc,
Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau,
Chia cách hố kia càng rộng,
Có ngày không nói với nhau,
Cũng không muốn nhìn thấy mặt,
Gây lên nội kết dài lâu;
Nay con hướng về Tam Bảo
Ăn năn khẩn thiết cúi đầu.

Đệ tử biết trong tâm thức,
Bao nhiêu hạt tốt lấp vùi:
Hạt giống thương yêu, hiểu biết,
Và bao hạt giống an vui.
Nhưng vì chưa biết tưới tẩm,
Hạt lành không mọc tốt tươi,
Cứ để khổ đau tràn lấp,
Làm cho đen tối cuộc đời.
Quen lối bỏ hình bắt bóng,
Đuổi theo hạnh phúc xa vời,
Tâm tư bận về quá khứ,
Hoặc lo rong ruổi tương lai,
Quanh quẩn trong vòng buồn giận,
Xem thường bảo vật trong tay,
Dày đạp lên trên hạnh phúc,
Tháng năm sầu khổ miệt mài;
Giờ đây trầm xông Bảo Điện,
Con nguyện sám hối đổi thay.

Đệ tử tâm thành quy ngưỡng,
Hướng về chư Phật mười phương,
Cùng với các vị Bồ Tát,
Thanh Văn, Duyên Giác, Thánh Hiền.

Chí thành cầu xin sám hối,
Bao nhiêu lầm lỡ triền miên,
Xin lấy cam lồ tịnh thủy,
Tưới lên dập tắt não phiền,
Xin lấy con thuyền Chính Pháp,
Đưa con vượt nẻo oan khiên,
Xin nguyện sống đời tỉnh thức,
Học theo đạo lý chân truyền,
Thực tập nụ cười hơi thở,
Sống đời chính niệm tinh chuyên.

Đệ tử xin nguyện trở lại,
Sống trong hiện tại nhiệm mầu,
Vườn tâm ươm hạt giống tốt,
Vun trồng hiểu biết, thương yêu.
Xin nguyện học phép quán chiếu,
Tập nhìn tập hiểu thật sâu,
Thấy được tự tính các pháp,
Thoát ngoài sinh tử trần lao,
Nguyện học nói lời ái ngữ,
Thương yêu, chăm sóc sớm chiều,
Đem nguồn vui tới mọi nẻo,
Giúp người vơi nỗi sầu đau,
Đền đáp công ơn cha mẹ,
Ơn Thầy, nghĩa bạn dày sâu.
Tín thành tâm hương một nén,
Đài sen con nguyện hồi đầu.
Nguyện đức Từ Bi che chở,
Trên con đường đạo nhiệm mầu,
Nguyện xin chuyên cần tu tập,
Vuông tròn đạo quả về sau.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ tát.

Nam mô Cầu Sám Hối chư Phật.

Nam mô Cầu Sám Hối Phật Đà.

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền
Bồ tát:

Một là kính lễ chư Phật.

Hai là xưng tán Như Lai.

Ba là rộng tu cúng dường.

Bốn là sám hối nghiệp chướng.

Năm là tùy hỷ công đức.

Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.

Bảy là thỉnh Phật trụ thế.

Tám là thường theo học Phật.

Chín là hằng thuận chúng sinh.

Mười là hồi hướng khắp tất cả.

PHỤC NGUYỆN

Chúng con nguyện đem công đức tu hành thật có trong ngày hôm nay, đối với thân: Thực hành thiểu dục tri túc, đối với khẩu: Nói lời thanh tịnh xa rời các dục, đối với ý: thường tư duy các Pháp. Nguyện cho các tín chủ ………. Cùng tất cả Phật tử hiện tại trong đạo tràng đã phát tâm cúng dường, tùy theo phúc của mình mà được bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin nơi Tam Bảo ngày càng sâu, tâm từ bi đối với chúng sinh tăng trưởng.

Nguyện cho các vong linh ……..….. tùy theo phúc báu cúng dường của các tín chủ mà được phát tâm giác tỉnh, lìa khổ u minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về nơi cõi Phật an vui.

Nguyện cho: Nước nhà có phúc, dân tộc trung kiên, trí đức tròn đầy nhân tâm hòa lạc. Nguyện cho già trẻ kính nhường, trí ngu chẳng nghịch, mọi người chung sức, giúp nước an dân, người vật cùng hưởng.

Lại nguyện: Dòng giống Việt Nam, khác thể tâm đồng, quay về nguồn xưa, phát minh bản địa, mong cho ba nghiệp chóng tiêu, chân tâm tỏ rõ, quốc độ thanh bình, đạo đời yên ổn.

Khắp nguyện: Phước ban tất cả, đức độ quần sinh, Phật pháp thịnh hưng, tam đồ dứt sạch.

Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni.

    HỒI HƯỚNG

Công phu công đức có bao nhiêu,

Con xin lấy đó hồi hướng về,

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.

Nguyện đem công đức tu hành này,

Chan rải mười phương khắp tất cả,

Hết thảy chúng con cùng các loài,

Đồng được lên ngôi Vô Thượng Giác.

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.


NGHI THỨC TỤNG KINH SÁM HỐI

(Dùng cho tối thứ Bảy)

NGUYỆN HƯƠNG

Hương giới, hương định,cùng hương tuệ,

Hương giải thoát, giải thoát tri kiến,

Đài mây sáng rỡ trùm pháp giới,

Cúng dường Tam Bảo khắp mười phương.

Nam mô Bồ tát Hương Cúng Dường. (3 lần)

TÁN PHẬT

Đại từ, đại bi thương chúng sinh,
Đại hỷ, đại xả cứu hàm thức.
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm,
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắppháp giới.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới.

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp. Nay con nghe thấy vâng gìn giữ, Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

(3 lần)

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT:

Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI:

Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA:

Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ:

Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM:

Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU:

Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY:

Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM:

Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

LỄ PHẬT VÀ LỄ TỔ

Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.

Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.

Chí tâm đảnh lễ: Vị Lai Phật Di lặc Tôn.

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Tây phương Phật A Di Đà.

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Đông phương Phật Dược Sư Lưu Ly.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Lực Đại Thế Chí.

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Tuệ Bích Phổ Giác.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư.

( Đại chúng đồng quỳ )

SÁM HỐI BA NGHIỆP

Chúng con đồng đến trước Phật đài,
Tâm thành đảnh lễ mười phương Phật,
Tất cả Bồ tát trong ba đời,

Thanh Văn, Bích Chi, chúng Hiền Thánh,

Đồng đến chứng minh con phát lồ.%
Bao nhiêu tội lỗi trong nhiều kiếp,

Ba nghiệp gây lên chẳng nghĩ lường,
Nổi chìm lăn lộn trong ba cõi,
Tội ác chiêu hoài không biết dừng.
Hôm nay tỉnh giác con sám hối,

Hổ thẹn ăn năn mọi lỗi lầm,
Cầu xin chư Phật đồng chứng giám,
Bồ Tát, Thanh Văn thảy hộ trì.
Khiến con tội cũ như sương tuyết,
Hiện tại đời con đang sống đây,
Tuy có duyên lành gặp Phật Pháp,
Mà đã gây lên lắm nghiệp khiên.
Lòng còn chứa chấp tham kiêu mạn,
Sân si tật đố hạnh tà mê,
Miệng nói điêu ngoa thêm dối trá,
Gạt lường ác khẩu lời vu oan,
Sát sinh hại vật thân gây tạo,
Thương tổn sinh linh để lợi mình,
Tam Bảo chứng minh con sám hối.
Dứt tâm tương tục kể từ đây,
Không hề tái phạm dù lỗi nhỏ,
Nguyện gìn ba nghiệp như giá băng,

Nguyện đạt chân tông giáo viên đốn,

Kiến tính viên minh tâm nhất như.

Vọng tình ngoại cảnh dường mây khói,

Nghiệp thức vốn không trí sáng ngời,

Liễu sinh thoát tử không ngăn ngại,

Tam giới ra vào độ chúng sinh.
Thuyền từ chống mãi không dừng nghỉ,
Đưa hết sinh linh lên giác ngạn,
Công đức tu hành xin hồi hướng,
Tất cả chúng sinh đều Niết bàn,
Vào nhà chư Phật ngồi tòa báu,
Mặc áo Như Lai chứng pháp thân,
Đồng phát Bồ đề tâm bất thoái,
Đồng ngộ vô sinh pháp giới chân,
Đồng lên Phật quả vào Diệu giác,

Đồng nhập chân như thể sáng tròn.%%%

Chủ lễ xướng:

Tính tội vốn không, do tâm tạo.
Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong,
Tội trong tâm diệt cả đều không,
Thế ấy mới thật là chân sám hối.%

Nam mô Bồ tát Cầu Sám Hối.

(3 lần)%%%

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền
Bồ tát:

Một là kính lễ chư Phật.

Hai là xưng tán Như Lai.

Ba là rộng tu cúng dường.

Bốn là sám hối nghiệp chướng.

Năm là tùy hỷ công đức.

Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.

Bảy là thỉnh Phật trụ thế.

Tám là thường theo học Phật.

Chín là hằng thuận chúng sinh.

Mười là hồi hướng khắp tất cả.

%%%

PHỤC NGUYỆN

Chúng con nguyện đem công đức tu hành thật có trong ngày hôm nay, đối với thân: Thực hành thiểu dục tri túc, đối với khẩu: nói lời thanh tịnh xa rời các dục, đối với ý: Thường tư duy các Pháp. Nguyện cho các tín chủ ………. Cùng tất cả Phật tử hiện tại trong đạo tràng đã phát tâm cúng dường, tùy theo phúc của mình mà được bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin nơi Tam Bảo ngày càng sâu, tâm từ bi đối với chúng sinh tăng trưởng.%

Nguyện cho các vong linh ……..….. tùy theo phúc báu cúng dường của các tín chủ mà được phát tâm giác tỉnh, lìa khổ u minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về nơi cõi Phật an vui.%

Nguyện cho: Nước nhà có phúc, dân tộc trung kiên, trí đức tròn đầy nhân tâm hòa lạc. Nguyện cho già trẻ kính nhường, trí ngu chẳng nghịch, mọi người chung sức, giúp nước an dân, người vật cùng hưởng. Lại nguyện: Dòng giống Việt Nam, khác thể tâm đồng, quay về nguồn xưa, phát minh bản địa, mong cho ba nghiệp chóng tiêu, chân tâm tỏ rõ, quốc độ thanh bình, đạo đời yên ổn.%

Khắp nguyện: Phước ban tất cả đức độ quần sinh, Phật pháp thịnh hưng, tam đồ dứt sạch.

Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni. %%%

HỒI HƯỚNG

Công phu công đức có bao nhiêu,

Con xin lấy đó hồi hướng về,

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.%

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.%

Nguyện đem công đức tu hành này,

Chan rải mười phương khắp tất cả,

Hết thảy chúng con cùng các loài,

Đồng được lên ngôi Vô Thượng

giác.%%%

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.%

 Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.%

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.%

NGHI THỨC TỤNG KINH SÁM HỐI SÁU CĂN

(Dùng cho tối Chủ Nhật)

NGUYỆN HƯƠNG

Trầm thủy rừng thiền hương sực nức.

Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng.

Dao giới vót thành hình non thẳm.

Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.%

Nam mô Bồ tát Hương Cúng Dường. (3 lần)%%%

TÁN PHẬT

Đại từ, đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ, đại xả cứu hàm thức.

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm,

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.%

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới.%

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới.%

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. %%%

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.  %

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần) %%%

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT:

Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI:

Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA:

Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ:

Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM:

Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU:

Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY:

Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM:

Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc. %%%

LỄ PHẬT VÀ LỄ TỔ

Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi. %

Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni. %

Chí tâm đảnh lễ: Vị Lai Phật Di lặc Tôn. %

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Tây phương Phật A Di Đà. %

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Đông phương Phật Dược Sư Lưu Ly. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Lực Đại Thế Chí. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.%

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.  %

Chí tâm đảnh lễ:  Tổ sư Tuệ Bích Phổ Giác. %

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư. %%%

( Đại chúng đồng quỳ )

SÁM HỐI SÁU CĂN

Chí tâm sám hối!

Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,

Bỏ mất bản tâm, không biết chính đạo.

Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm;

Không sám lỗi trước, khó tránh hối

sau.%

1. NGHIỆP CĂN MẮT LÀ:%

Nhân ác xem kỹ,

Nghiệp thiện coi khinh,

Lầm nhận hoa giả,

Quên ngắm trăng thật.

Yêu ghét nổi dậy,

Đẹp xấu tranh giành,

Chợt mắt dối sinh,

Mờ đường chính kiến.

Trắng qua xanh lại,

Tía phải vàng sai,

Nhìn lệch các thứ,

Nào khác kẻ mù.

Gặp người sắc đẹp,

Liếc trộm nhìn ngang,

Lòa mắt chưa sinh,

Bản lai diện mục.

Thấy ai giàu có,

Giương mắt mãi nhìn,

Gặp kẻ bần cùng,

Lờ đi chẳng đoái.

Người dưng chết chóc,

Nước mắt ráo khô,

Thân quyến qua đời,

Đầm đìa lệ máu.

Hoặc đến Tam bảo,

Hoặc vào chùa chiền,

Gần Tượng, thấy Kinh,

Mắt không thèm ngó.

Phòng Tăng, điện Phật,

Gặp gỡ gái trai,

Mắt liếc mày đưa,

Đam mê sắc dục.
Không ngại Hộ pháp,

Chẳng sợ Long thần,
Trố mắt ham vui,

Đầu chưa từng cúi.
Những tội như thế,

Vô lượng vô biên,
Đều từ mắt sinh,

Phải sa địa ngục.
Trải hằng sa kiếp,

Mới được làm người,
Dù được làm người,

Lại bị mù chột.

2. NGHIỆP CĂN TAI LÀ:%

Ghét nghe Chính pháp,

Thích lắng lời tà,

Mê mất gốc chân,

Đuổi theo ngoại vọng.

Sáo đàn inh ỏi,

Bảo khúc long ngâm,

Văng vẳng mõ chuông,

Coi như ếch nhái.

Câu ví bài vè,

Bỗng nhiên để dạ,
Lời kinh câu kệ,

Không chút lắng tai.
Thoảng nghe khen hảo,

Khấp khởi mong cầu,
Biết rõ lời lành,

Đâu từng ưng nhận.
Vài ba bạn rượu,

Năm bảy khách chơi,
Tán ngắn bàn dài,

Châu đầu nghe thích.
Hoặc gặp thầy bạn,

Dạy bảo đinh ninh,
Những điều hiếu trung,

Che tai bỏ mặc.
Hoặc nghe tiếng xuyến,

Bỗng nảy lòng dâm,
Nghe nửa câu kinh,

Liền như tai ngựa.
Những tội như thế,

Vô lượng vô biên,
Đầy ắp bụi trần,

Kể sao cho xiết.

Sau khi mạng chung,

Rơi ba đường ác
Hết nghiệp thọ sinh,

Lại làm người điếc.

3. NGHIỆP CĂN MŨI LÀ:%

Thường tham mùi lạ,

Trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng thích chân hương,

Năm phần thanh tịnh.
Lan xông xạ ướp,

Chỉ thích tìm tòi,
Giới định hương huân,

Chưa từng để mũi.
Trầm đàn thiêu đốt,

Đặt trước Phật đài,
Nghểnh cổ hít hơi,

Trộm hương phẩy khói.
Theo dõi hương trần,

Long thần chẳng nể,
Chỉ thích mùi xằng,

Trọn không chán mỏi.
Mặt đào má hạnh,

Lôi kéo chẳng lìa,
Cây giác hoa tâm,

Xoay đi không đoái.
Hoặc ra phố chợ,

Hoặc vào bếp sau,
Thấy bẩn thèm ăn,

Ưa nhơ kiếm nuốt.
Chẳng ngại tanh hôi,

Không kiêng hành tỏi,
Mê mãi không thôi,

Như lợn nằm ổ.
Hoặc chảy nước mũi,

Hoặc hỉ đờm vàng,
Bôi cột quẹt thềm,

Làm nhơ đất sạch.
Hoặc say nằm ngủ,

Điện Phật phòng Tăng,
Hai mũi thở hơi,

Xông kinh nhơ tượng.
Ngửi sen thành trộm,

Nghe mùi thành dâm,
Không biết không hay,

Đều do nghiệp mũi,
Những tội như thế,

Vô lượng vô biên,
Sau khi mạng chung,

Đọa ba đường khổ.
Trải ngàn muôn kiếp,

Mới được làm người,
Dù được làm người,

Quả báo bệnh mũi.

4. NGHIỆP CĂN LƯỠI LÀ:%

Tham đủ mọi mùi,

Thích xét ngon dở,
Nếm hết các thứ,

Rõ biết béo gầy.
Sát hại sinh vật,

Nuôi dưỡng thân mình,
Quay rán cá chim,

Nấu hầm cầm thú.
Thịt tanh béo miệng,

Hành tỏi ruột xông.
Ăn rồi đòi nữa,

Nào thấy no đâu.
Hoặc đến đàn chay,

Cầu thần lễ Phật,
Cố cam bụng đói,

Đợi lúc việc xong.
Sáng sớm ăn chay,

Cơm ít nước nhiều,
Giống hệt người đau,

Gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt đầy mỡ thịt,

Cười nói hân hoan,
Rượu chuốc cơm mời,

Nóng thay nguội đổi.
Bày tiệc đãi khách,

Cưới gả cho con,
Giết hại chúng sinh,

Vì ba tấc lưỡi.
Nói dối bày điều,

Thêu dệt bịa thêm,
Hai lưỡi bỗng sinh,

Ác khẩu dấy khởi.
Chửi mắng Tam Bảo,

Nguyền rủa mẹ cha,
Khinh khi Hiền thánh,

Lừa dối mọi người.
Chê bai người khác,

Che dấu lỗi mình,
Bàn luận cổ kim,

Khen chê này nọ.

Khoe khoang giàu có,

Lăng nhục người nghèo,
Xua đuổi Tăng Ni,

Chửi mắng tôi tớ.
Lời dèm thuốc độc,

Nói khéo tiếng đàn,
Tô vẽ điều sai,

Nói không thành có.
Oán hờn nóng lạnh,

Phỉ nhổ non sông,
Tán dóc Tăng phòng,

Ba hoa điện Phật.
Những tội như thế,

Vô lượng vô biên,
Ví như cát bụi,

Đếm không thể cùng.
Sau khi mạng chung,

Vào ngục Bạt thiệt,
Cày sắt kéo dài,

Nước đồng rót mãi.
Quả báo hết rồi,

Muôn kiếp mới sinh,

Dù được làm người,

Lại bị câm bặt.

5. NGHIỆP CĂN THÂN LÀ:%

Tinh cha huyết mẹ,

Chung hợp lên hình,

Năm tạng trăm hài,

Cùng nhau kết hợp.

Chấp cho là thật,

Quên mất pháp thân,

Sinh dâm, sát, trộm,

Bèn thành ba nghiệp:

* NGHIỆP SÁT SINH LÀ: %

Luôn làm bạo ngược,

Chẳng khởi nhân từ,

Giết hại bốn loài,

Đâu biết một thể.

Lầm hại cố giết,

Tự làm dạy người,

Hoặc tìm thầy bùa,

Đem về ếm đối.

Hoặc làm thuốc độc,

Để hại sinh linh,

Chỉ cốt hại người,

Không hề thương vật.

Hoặc đốt núi rừng,

Lấp cạn khe suối,

Buông chài bủa lưới,

Huýt chó thả chim,

Thấy nghe tùy hỷ,

Niệm dấy tưởng làm,

Cử động vận hành,

Đều là tội lỗi.

* NGHIỆP TRỘM CẮP LÀ: %

Thấy tài bảo người,

Thầm khởi tâm tà,

Phá khóa cạy then,

Sờ bao mò túi.

Thấy của Thường Trụ,

Lòng dấy khởi tham,

Trộm của nhà chùa,

Không sợ Thần giận.

Không những vàng ngọc,

Mới mắc tội to,

Ngọn cỏ cây kim,

Đều thành nghiệp trộm.

* NGHIỆP TÀ DÂM LÀ: %

Lòng mê nhan sắc,

Mắt đắm phấn son,

Chẳng đoái liêm trinh,

Riêng sinh lòng dục.

Hoặc nơi đất Phật,

Chính điện phòng Tăng,

Cư sĩ gái trai,

Đụng chạm đùa giỡn.

Tung hoa ném quả,

Đạp cẳng kề vai,

Khoét ngạch trèo tường,

Đều là dâm nghiệp.

Những tội như thế,

Vô lượng vô biên,

Đến lúc mạng chung,

Đều vào địa ngục.

Gái nằm giường sắt,

Trai ôm cột đồng,

Muôn kiếp tái sinh,

Lại chịu tội báo.

6. NGHIỆP CĂN Ý LÀ: %

Nghĩ vơ, nghĩ vẩn,

Không lúc nào dừng,

Mắc mứu tình trần,

Kẹt tâm chấp tướng.

Như tằm kéo kén,

Càng buộc càng bền,

Như bướm lao đèn,

Tự thiêu tự đốt.

Hồn mê chẳng tỉnh,

Điên đảo dối sinh

Não loạn tâm thần,

Đều do ba độc.

* TỘI KEO THAM LÀ: %

 Âm mưu ghen ghét,

Keo cú vét vơ,

Mười vốn ngàn lời,

Còn cho chưa đủ.

Của chứa tợ sông,

Lòng như hũ chảy,

Rót vào lại hết,

Nên nói chưa đầy.

Tiền mục lúa hư,

Không cứu đói rét,

Lụa là chất đống,

Nào có giúp ai,

Được người mấy trăm,

Chưa cho là nhiều,

Mất mình một đồng,

Tưởng như hao lớn.

Trên từ châu báu,

Dưới đến tơ gai,

Kho đụn chất đầy,

Chưa từng bố thí.

Bao nhiêu sự việc,

Ngày tính đêm lo.

Khổ tứ lao thần,

Đều từ tham nghiệp.

* TỘI NÓNG GIẬN LÀ: %

Do tham làm gốc,

Lửa giận tự thiêu,

Quắc mắt quát to,

Tiêu tan hòa khí

Không riêng người tục,

Cả đến Thầy tu,

Kinh luận tranh giành,

Cùng nhau công kích.

Chê cả Sư trưởng,

Nhiếc đến mẹ cha,

Cỏ nhẫn héo vàng,

Lửa độc rực cháy.

Buông lời hại vật,

Cất tiếng hại người,

Không nhớ từ bi,

Chẳng theo luật cấm.

Bàn thiền tợ Thánh,

Trước cảnh như ngu,

Dù ở cửa Không,

Chưa thành Vô ngã.

Như cây sinh lửa,

Lửa cháy đốt cây,

Những tội trên đây,

Đều do nghiệp giận.

* TỘI NGU SI LÀ: %

Căn tính đần độn,

Ý thức tối tăm,
Chẳng hiểu tôn ty,

Không phân thiện ác.
Chặt cây hại mạng,

Giết gấu gãy tay,
Mắng Phật chuốc ương,

Phun Trời ướt mặt.
Quên ơn quên đức,

Bội nghĩa bội nhân,
Không tỉnh không xét,

Đều do si nghiệp.
Những tội như thế,

Rất nặng rất sâu,
Đến lúc mạng chung,

Rơi vào địa ngục.
Trải ngàn muôn kiếp,

Mới được thọ sinh,
Dù được thọ sinh,

Lại mắc ngu báo.
Nếu không sám hối,

Đâu được tiêu trừ,
Nay trước Phật đài,

Thảy đều sám hối. %%%

Chủ Lễ Xướng:

Tính tội vốn không, do tâm tạo.
Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong.
Tội trong tâm diệt, cả đều không.
Thế ấy mới thật là chân sám hối. %

Nam mô Bồ tát Cầu Sám Hối.

(3 lần)%%%

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền
Bồ tát:

Một là kính lễ chư Phật.

Hai là xưng tán Như Lai.

Ba là rộng tu cúng dường.

Bốn là sám hối nghiệp chướng.

Năm là tùy hỷ công đức.

Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.

Bảy là thỉnh Phật trụ thế.

Tám là thường theo học Phật.

Chín là hằng thuận chúng sinh.

Mười là hồi hướng khắp tất cả.

%%%

PHỤC NGUYỆN

Chúng con nguyện đem công đức tu hành thật có trong ngày hôm nay, đối với thân: Thực hành thiểu dục tri túc, đối với khẩu: nói lời thanh tịnh xa rời các dục, đối với ý: Thường tư duy các Pháp. Nguyện cho các tín chủ ………. Cùng tất cả Phật tử hiện tại trong đạo tràng đã phát tâm cúng dường, tùy theo phúc của mình mà được bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin nơi Tam Bảo ngày càng sâu, tâm từ bi đối với chúng sinh tăng trưởng.%

Nguyện cho các vong linh ……..….. tùy theo phúc báu cúng dường của các tín chủ mà được phát tâm giác tỉnh, lìa khổ u minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về nơi cõi Phật an vui.%

Nguyện cho: Nước nhà có phúc, dân tộc trung kiên, trí đức tròn đầy nhân tâm hòa lạc. Nguyện cho già trẻ kính nhường, trí nhu chẳng nghịch, mọi người chung sức, giúp nước an dân, người vật cùng hưởng. Lại nguyện: Dòng giống Việt Nam, khác thể tâm đồng, quay về nguồn xưa, phát minh bản địa, mong cho ba nghiệp chóng tiêu, chân tâm tỏ rõ, quốc độ thanh bình, đạo đời yên ổn.%

Khắp nguyện: Phước ban tất cả đức độ quần sinh, Phật pháp thịnh hưng, tam đồ dứt sạch.

Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni. %%%

HỒI HƯỚNG

Công phu công đức có bao nhiêu,

Con xin lấy đó hồi hướng về,

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.%

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.%

Nguyện đem công đức tu hành này,

Chan rải mười phương khắp tất cả,

Hết thảy chúng con cùng các loài,

Đồng được lên ngôi Vô Thượng

giác.%%%

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.%

  Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.%

hv34  Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.%

 NGHI THỨC TỤNG KINH SÁM HỐI

( Dùng từ thứ 2 đến thứ 6 trong tuần )

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính,

Gửi theo đám mây hương,

Phảng phất khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo.

Thề trọn đời giữ đạo,

Theo tự tính làm lành,

Cùng pháp giới chúng sinh,

Cầu Phật từ gia hộ.

Tâm Bồ đề kiên cố,

Chí tu đạo vững bền,

Xa biển khổ nguồn mê,

Chóng quay về bờ giác.%

Nam mô Bồ tát Hương Cúng Dường. (3 lần)%%%

                                 TÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loài.

Quy y trọn một niệm,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Xưng dương cùng tán thán,

Ức kiếp không cùng tận.%

QUÁN TƯỞNG

Phật chúng sinh tính thường rỗng lặng.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Lưới đế châu ví đạo tràng.

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện.

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. %

Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.%

  Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sa bà giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. %

  Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây phương giáo chủ Cực lạc Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. %

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp. Nay con nghe thấy vâng gìn giữ, Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế

Tôn.  %

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần) %%%

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT:

Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI:

Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA:

Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ:

Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM:

Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU:

Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY:

Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM:

Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc. %%%

LỄ PHẬT VÀ LỄ TỔ

Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.%

Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni. %

Chí tâm đảnh lễ: Vị Lai Phật Di lặc Tôn. %

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Tây phương Phật A Di Đà. %

Chí tâm đảnh lễ: Giáo chủ cõi Đông phương Phật Dược Sư Lưu Ly. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Lực Đại Thế Chí. %

Chí tâm đảnh lễ: Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa. %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.  %

Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Tuệ Bích Phổ Giác. %

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư. %%%

SÁM THẬP ÁC

Đệ tử chúng con một lòng thành,

Xin giãi bày tội lỗi xưa nay,

Xét con tạo ác đã dày,

Vì ngu, tham, giận mà gây thói tà.

Thân, miệng, ý sinh ra mọi tội,

Suy cho cùng đều bởi sáu căn.

Mắt ưa sắc, lưỡi tham ăn,

Tai say mê tiếng, mũi thuần mến hương.

Thân thích xúc, lòng vương mọi pháp,

Hợp cùng nhau tạo ác vô cùng,

Xấu xa chất chứa đầy lòng,

Hại người, hại vật thật không thiếu gì.

Lòng tham, giận, ngu si điên đảo,

Miệng điêu ngoa trở tráo trăm chiều,

Bỗng dưng thường đặt lên điều,

Ăn không nói có dệt thêu hại người.

Hết nguyền rủa lại lời độc ác,

Chẳng khác gì Càn Thát, Ma Vương,

Thân còn trộm cắp đủ đường,

Tham tàn giết hại chẳng thương muôn loài.

Thói nguyệt hoa đêm ngày say đắm,

Làm bao điều rối loạn nhân luân,

Nay con hổ thẹn muôn phần,

Vì mê nên đã trầm luân bao đời.

Thân chẳng khác bèo trôi sóng vỗ,

Chịu đắm chìm biển khổ sông mê,

Bấy lâu chưa biết đường về,

Cam lòng theo nghiệp dắt đi đủ đường.

Chư Phật rộng lòng thương con dại,

Muốn cứu con thoát khỏi luân hồi,

Gắng công cầu đạo không ngơi,

Trải bao cay đắng chẳng lui chuyển lòng.

Tổn tính mệnh cũng không hề tiếc,

Nguyện đời đời độ hết chúng sinh,

Con nay dốc một lòng thành,

Cúi xin giải tỏ tội tình của con.

Bằng tơ tóc chẳng còn dám giấu,

Sám hối cầu Tam Bảo chứng minh,

Trước cầu sạch tội của mình,

Sau xin cho cả chúng sinh mọi loài.

Bao tội lỗi đồng thời giải thoát,

Dốc lòng thành xin Phật rộng thương,

Từ nay chẳng dám tưởng màng,

Gây lên tội ác để mang sau này.

Việc phúc thiện đêm ngày xin gắng,

Đạo Bồ đề nguyện chứng không lui,

Được rồi xin độ muôn loài,

Đều cùng thành Phật đời đời yên vui.

Xin cho con được như lời,

Sám hối phát nguyện đã rồi,

Con xin lễ Phật cùng mười phương Tăng. %%%

(Đại chúng đồng ngồi tụng kinh )

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền
Bồ tát:

Một là kính lễ chư Phật.

Hai là xưng tán Như Lai.

Ba là rộng tu cúng dường.

Bốn là sám hối nghiệp chướng.

Năm là tùy hỷ công đức.

Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.

Bảy là thỉnh Phật trụ thế.

Tám là thường theo học Phật.

Chín là hằng thuận chúng sinh.

Mười là hồi hướng khắp tất cả.%%%

PHỤC NGUYỆN

Chúng con nguyện đem công đức tu hành thật có trong ngày hôm nay, đối với thân: Thực hành thiểu dục tri túc, đối với khẩu: nói lời thanh tịnh xa rời các dục, đối với ý: Thường tư duy các Pháp. Nguyện cho các tín chủ ………. Cùng tất cả Phật tử hiện tại trong đạo tràng đã phát tâm cúng dường, tùy theo phúc của mình mà được bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin nơi Tam Bảo ngày càng sâu, tâm từ bi đối với chúng sinh tăng trưởng.%

Nguyện cho các vong linh ……..….. tùy theo phúc báu cúng dường của các tín chủ mà được phát tâm giác tỉnh, lìa khổ u minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về nơi cõi Phật an vui.%

Nguyện cho: Nước nhà có phúc, dân tộc trung kiên, trí đức tròn đầy nhân tâm hòa lạc. Nguyện cho già trẻ kính nhường, trí ngu chẳng nghịch, mọi người chung sức, giúp nước an dân, người vật cùng hưởng. Lại nguyện: Dòng giống Việt Nam, khác thể tâm đồng, quay về nguồn xưa, phát minh bản địa, mong cho ba nghiệp chóng tiêu, chân tâm tỏ rõ, quốc độ thanh bình, đạo đời yên ổn.%

Khắp nguyện: Phước ban tất cả đức độ quần sinh, Phật pháp thịnh hưng, tam đồ dứt sạch.

Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni. .%%%

                     HỒI HƯỚNG

Công phu công đức có bao nhiêu,

Con xin lấy đó hồi hướng về,

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.%

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.%

Nguyện đem công đức tu hành này,

Chan rải mười phương khắp tất cả,

Hết thảy chúng con cùng các loài,

Đồng được lên ngôi Vô Thượng giác.%%%

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. %

  Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. %

  Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. %%%

Kinh Pháp Cú Thí DỤ

QUYỂN THỨ NHẤT

PHẨM THỨ NHẤT

VÔ THƯỜNG

1- THIÊN ĐẾ THÍCH
TỰ QUY Y TAM BẢO

Thuở xưa, trời Đế Thích bỗng nhiên mất đi năm đức tướng nên tự biết mình sắp mạng chung tái sanh vào thai một con lừa trong nhà người thợ làm đồ gốm.

 Năm đức tướng mất đi là gì?

1- Hào quang trên thân mất.

2- Hoa trên đầu khô héo.

3- Không còn ưa thích chỗ ngồi
của mình.

4- Mồ hôi nách chảy hôi dơ.

5- Bụi bám trên thân.

Đế-thích nhân năm việc này, biết phước mình đã hết nên hết sức lo buồn. Ông nghĩ trong tam giới chỉ có Phật mới cứu độ được khổ ách cho chúng sanh, nên vội tìm đến chỗ Phật.

Bấy giờ đức Thế Tôn đang tọa thiền nhập Phổ Quang Tế tam-muội trong thạch thất trên núi Kỳ-xà-quật. Thiên Đế đến nơi gặp Phật liền cúi đầu đảnh lễ, phủ phục sát đất, chí tâm quy mạng Phật Pháp Tăng. Trong khoảng thời gian cúi mình làm lễ, Thiên Đế mạng chung, thần thức liền nhập vào thai một con lừa trong nhà người thợ đồ gốm. Lúc ấy, lừa mẹ tự bứt đứt dây, chạy loạn vào chỗ đồ gốm chưa nung, làm đổ vỡ rất nhiều. Người chủ giận lắm, bèn xách cây rượt đánh, lừa mẹ nhân đó bị sẩy thai. Thần thức của Thiên Đế liền thoát khỏi thai lừa, nhập lại thân cũ, đầy đủ năm đức tướng như xưa.

Đức Phật ra khỏi tam-muội xong,
tán thán:

– Lành thay, này Thiên Đế! Ông có thể đến lúc sắp mạng chung biết qui mạng Tam bảo, tội nghiệp đã trả xong, không còn thọ khổ báo nữa.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Các hành đều vô thường

Đó là pháp thịnh suy

Đã sinh thì phải tử

Tịch diệt là an vui.

Ví như nhà thợ gốm

Nắn đất làm đồ dùng

Tất cả đều phải hoại

Mạng người cũng vậy thôi!

Đế-thích nghe kệ xong liền biết yếu nghĩa vô thường, thông lẽ biến đổi tội phước, hiểu rõ cội gốc thịnh suy, tuân theo lý đạo tịch diệt. Ông hoan hỉ phụng trì chánh pháp, đắc quả Tu-đà-hoàn

2- MẸ VUA BA TƯ NẶC CHẾT

Thuở xưa, đức Phật trú tại tịnh xá nước Xá-vệ thuyết pháp cho hàng trời người long thần. Lúc ấy, mẹ vua Ba-tư-nặc tuổi hơn chín mươi chợt lâm trọng bệnh, vì không trị đúng thầy đúng thuốc nên đã qua đời. Vua và quần thần làm lễ tang theo pháp, rồi đưa đi an táng. Tang sự xong, mọi người trở về, ghé ngang qua chỗ Phật. Lúc ấy vua quần áo xốc xếch, giày dép trầy trật bước đến làm lễ bên chân Phật. Đức Phật mời vua ngồi xuống rồi hỏi:

– Vua từ đâu đến mà áo quần thô xấu, vẻ mặt tiều tụy, sao lại ra nông nỗi này?

Nhà vua làm lễ rồi đáp:

– Thái hậu của nước tuổi hơn chín mươi mắc phải trọng bệnh vừa mới qua đời. Con đưa linh cữu ra mộ rồi trở về ghé qua đây thăm đức Thế Tôn.

Đức Phật bảo với vua:

– Từ xưa đến nay có bốn việc đáng sợ nhất, đó là:

1- Sinh phải già yếu.

2- Bệnh sẽ tiều tụy.

3- Chết thần thức ra đi.

4- Xa lìa quyến thuộc.

Vạn vật vô thường, không thể dài lâu, chẳng hẹn cùng người. Mỗi ngày trôi qua, mạng sống lần giảm. Như nước năm sông chảy mãi không ngừng, mạng người mau chóng cũng lại như vậy.

Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:

Như nước sông chảy mau

Theo dòng trôi đi mãi

Mạng người cũng như vậy

Qua rồi không trở lại.

Rồi đức Phật nói với vua rằng:

– Mọi vật trên đời đều như vậy, không có cái gì trường tồn. Mọi người đều phải chết, không ai tránh được lẽ này. Các vị Phật, chân nhân, tiên ngũ thông, quốc vương thuở xưa nay có còn đâu? Vua không nên buồn thương vô ích có hại đến thân mình. Làm người con hiếu thương yêu cha mẹ quá vãng thì phải làm phước, tu tạo công đức hồi hướng cho cha mẹ, như là chuẩn bị lương thực gởi cho người thân lúc đi xa.

Nghe đức Phật dạy xong, vua và quần thần ai nấy đều hoan hỉ, không còn lo buồn. Những người đến nghe pháp đều thấy được đạo.

3- ĐÀN BÒ BỊ GIẾT THỊT

Thuở xưa, đức Phật trú tại vườn trúc thành La-duyệt-kỳ. Một hôm, Ngài cùng với các đệ tử nhận lời thỉnh vào thành thọ trai thuyết pháp. Thọ trai thuyết pháp xong, lúc ấy vào khoảng xế chiều, đức Phật và các đệ tử ra khỏi thành trở về tịnh xá. Trên đường đi, Ngài và đại chúng gặp một người đang lùa một đàn bò vào thành, sau một ngày thả cho chúng ăn bên ngoài. Lúc ấy, đức Thế Tôn nói lên kệ rằng:

Ví như người cầm gậy

Chăn dắt đàn bò si

Già chết cũng như vậy

Đang lùa mạng sống đi.

Trăm ngàn không có một

Trai gái dòng họ nào

Tài sản nhiều biết bao

Mà tránh khỏi già chết.

Sự sống ngày lẫn đêm

Sinh mạng tự lần giảm

Tuổi thọ luôn tiêu mòn

Như nước ao rút cạn.

Đức Phật về đến vườn trúc rửa chân rồi ngồi xuống. A-nan ra trước đảnh lễ thưa hỏi:

– Bạch đức Thế Tôn, ban nãy giữa đường Ngài có nói lên ba bài kệ. Chúng con vẫn chưa hiểu lắm, xin Ngài từ bi khai thị cho. Đức Phật hỏi:

– Này A-nan, ông có thấy người ta lùa đàn bò đi không?

– Bạch đức Thế Tôn, con có thấy – A-nan đáp.

Đức Phật giảng giải:

– Này A-nan, đàn bò đó là của một nhà hàng thịt, vốn có cả ngàn con. Mỗi ngày ông chủ đều cho người lùa ra ngoài thành tìm nơi cỏ tươi, nước trong cho chúng ăn uống. Họ nuôi lớn rồi mỗi ngày chọn ra một con to béo nhất giết lấy thịt. Số bò bị giết đến nay đã hơn phân nửa, mà những con còn lại vẫn không hay biết, cứ lo đấu húc lẫn nhau, nhảy nhót, kêu rống. Ta vì thương cho chúng ngu si vô trí nên mới nói lên ba bài kệ này. Này A-nan! đâu phải chỉ có đàn bò đó vô trí thôi, mà người đời cũng như vậy! Họ chấp trước bản ngã, không biết vô thường, tham đắm năm dục, chỉ lo cung dưỡng thân mình. Tâm ý thỏa thuê trở lại gây ra tai họa. Vô thường túc nghiệp không hẹn chợt đến mà họ vẫn mờ mịt không biết, thì có khác chi với đàn bò kia?

– Lúc ấy, trong hội chúng có hai trăm Tỳ-kheo tham đắm lợi dưỡng nghe được bài pháp này liền tự sách tấn lấy mình, do đó chứng quả A-la-hán, đầy đủ lục thông. Còn đại chúng đều hoan hỉ bước ra đảnh lễ Phật.

4- CON GÁI PHẠM CHÍ CHẾT

Thuở xưa, đức Phật thuyết pháp cho các hàng đệ tử ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc nước Xá-vệ. Lúc ấy, có con gái của một vị Phạm Chí, tổi khoảng mười bốn, mười lăm, đoan chánh, thông minh rất được cha yêu mến, bỗng lâm bệnh nặng đột ngột chết đi. Đồng thời ruộng của vị Phạm Chí đó đang mùa lúa chín cũng bị lửa cháy hết sạch. Trước tai nạn dồn dập, vị Phạm Chí vô cùng đau buồn, tâm ý hoảng loạn như người phát cuồng, không cách gì giải tỏa nổi. Ông nghe người ta nói Phật là bậc thánh, thầy của cả trời người, hay thuyết Pháp giúp cho chúng sinh hết phiền não, khỏi khổ đau, nên tìm đến chỗ Phật nhờ giúp đỡ. Đến nơi, ông đảnh lễ rồi quì xuống thưa rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, con vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái sớm hôm an ủi. Thế mà nói bỗng lâm trọng bệnh, bỏ con ra đi. Tình cha con quyến luyến là lẽ tự nhiên, nên con vô cùng khổ não. Xin đức Thế Tôn oai thần giáo hóa giúp cho con giải tỏa nỗi đau buồn này.

Đức Phật bảo Phạm Chí:

– Trên đời có bốn việc không thể lâu dài. Đó là những gì?

1- Trường tồn phải hoại diệt.

2- Giàu sang phải nghèo hèn.

3- Hội họp phải chia ly.

4- Khỏe mạnh rồi phải chết.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Trường tồn phải hoại diệt

Cao sang sẽ sa cơ

Gặp gỡ rồi ly biệt

Đã sinh ắt tử vong.

Ông Phạm Chí nghe xong, tâm ý khai ngộ không còn đau buồn, rồi xin Phật xuất gia làm Tỳ-Kheo.

Đức Phật hoan hỉ hứa khả bảo:

– Lành thay, hãy lại đây Tỳ-kheo.

Phạm Chí râu tóc liền tự rụng, thành tướng Sa-môn. Sau đó nhờ nỗ lực quán chiếu lý vô thường, chẳng bao lâu ông chứng quả A-la-hán.

5- TÂM VÔ THƯỜNG CỦA NÀNG LIÊN HOA SẮC

Thuở xưa, đức Phật trú trên núi Kỳ-xà-quật thành La-duyệt-kỳ. Lúc ấy, trong thành có một nàng kỹ nữ tên là Liên Hoa. Nàng này nhan sắc xinh đẹp, cả nước không ai sánh bằng. Thanh niên con em các nhà quyền quí ai cũng hâm mộ, tranh nhau tìm đến. Một hôm, nàng Liên Hoa bỗng sinh tâm lành, muốn bỏ việc đời xuất gia làm Tỳ-kheo Ni. Nàng từ bỏ tất cả tìm đến núi Kỳ-xà-quật nơi đức Phật đang cư trú. Giữa đường, gặp một suối nước mát, nàng Liên Hoa liền ghé lại uống nước rửa tay. Làn nước trong xanh, long lanh hiện lên bóng dáng của nàng, vẻ mặt hồng thắm, mái tóc mượt xanh, thân hình cân đối đến mức hoàn hảo.

Tự nhìn thấy nhan sắc xinh đẹp của mình, nàng Liên Hoa hồi tiếc nghĩ rằng: “Ta sinh ra có được nhan sắc mặn mà như vậy, sao lại nỡ bỏ đi để làm Sa-môn? Ta nên nhân lúc còn trẻ mà hưởng thụ cho thỏa mãn những khao khát riêng mình”.

Nghĩ như vậy xong, nàng liền đi về. Đức Phật biết Liên Hoa có thể độ được, nên hóa ra một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần hơn xa Liên Hoa từ phía khác đi ngược chiều lại. Liên Hoa trông thấy vô cùng yêu mến, liền hỏi thăm:

– Nàng từ đâu đến? Chồng con cha anh ở đâu mà đi một mình vậy?

Thiếu nữ đáp:

– Tôi ở trong thành có việc ra ngoài, nay định trở về nhà. Chị em mình mới quen nhau cùng về chung nhé? Gần đây có bờ nước, chúng ta trước hãy đến đó nghỉ ngơi, trò chuyện.

Liên Hoa vui vẻ đáp:

– Vậy thì hay lắm.

Hai người đến bên bờ nước chuyện trò tâm sự. Một lát sau, thiếu nữ mệt mỏi tựa vào gối Liên Hoa ngủ. Không ngờ, mới đó thiếu nữ đã chết, thi thể sình lên, giòi bò lúc nhúc, răng tóc rụng rời, tứ chi tan rã, mùi hôi bốc ra thật khó ngửi.

Liên Hoa trông thấy hết sức kinh sợ, nghĩ rằng: “Nàng ấy trẻ đẹp như vậy mới đó mà đã không còn. Huống chi thân ta, làm sao bảo đảm dài lâu?”.

Nghĩ xong, nàng liền khởi tâm tinh tấn học đạo trở lại, tiếp tục tìm đến chỗ Phật. Đến nơi, nàng đảnh lễ đức Phật, rồi thuật lại đầy đủ những việc đã thấy.

Đức Phật nói với Liên Hoa:

– Người ta có bốn việc không thể nương cậy. Đó là những gì?

1- Trẻ trung phải già yếu.

2- Mạnh khỏe phải tử vong.

3- Thân thuộc vui vẻ phải xa lìa.

4- Của cải tích trữ phải phân tán.

Bấy giờ, đức Phật liền nói kệ:

Già thì hình sắc suy

Bệnh khiến thân này hoại

Khi mạng đã hết rồi

Thân rã tan, hư hoại.

Than này có gì quí

Đồ dơ tuôn chảy hoài

Bị bệnh tật phủ vây

Phải chịu họa già chết.

Buông lung theo thị dục

Tăng thêm điều phi pháp

Đâu biết sự đổi thay

Mạng người trong hơi thở!

Dầu cho là con ruột

Hay cha mẹ anh em

Khi cái chết đến nơi

Không nương cậy ai được

Nàng Liên hoa nghe pháp xong hân hoan giải ngộ, quán thân như huyễn hóa, mạng sống chẳng dài lâu, chỉ có Niết-bàn là an ổn vĩnh cửu, nên đến trước Phật xin xuất gia làm Tỳ-kheo Ni.

Phật nói:

– Lành thay!

Tóc Liên Hoa liền tự rụng, thành Tỳ-kheo Ni. Sau đó, nhờ công phu tư duy thiền quán, Tỳ-kheo ni Liên Hoa đã chứng quả A-la-hán.

Những vị được nghe pháp trong pháp hội, ai nấy đều hoan hỉ.

6 – BỐN ANH EM PHẠM CHÍ TRỐN TỬ THẦN

Thuở xưa, đức Phật thuyết Pháp trong vườn trúc thành Vương-xá. Lúc ấy, có bốn anh em Phạm Chí đã chứng được ngũ thông, tự biết sau bảy ngày nữa mình sẽ chết. Do đó, họ cùng bàn với nhau rằng:

– Sức của ngũ thông có thể làm nghiêng lệch trời đất, nắm giữ mặt trời mặt trăng, dời núi cao, ngưng sông chảy… không việc nào là không làm được, lẽ nào tránh không khỏi cái chết này sao?

Người thứ nhất nói:

– Tôi sẽ lặn xuống biển, trên không xuất hiện, dưới không đến đáy, ở giữa lưng chừng biển thì quỷ vô thường làm sao biết chỗ mà tìm?

Người thứ hai nói:

– Tôi chui vào giữa núi Tu-di, khép núi lại bao bọc xung quanh thì quỷ vô thường biết đâu mà kiếm?

Người thứ ba nói:

– Tôi sẽ ẩn nấp giữa hư không, quỷ vô thường làm sao biết được.

Người thứ tư nói:

– Tôi sẽ lẫn vào trong chợ, quỷ vô thường đến bắt được một người nào đó thì thôi, cần gì phải tìm bắt tôi?

Bốn người bàn xong, bèn đến gặp vua Ba-tư-nặc từ giã:

– Thọ mạng của chúng tôi chỉ còn bảy ngày nữa. Nay chúng tôi muốn chạy trốn vô thường, mong rằng sẽ thoát được trở về thăm vua.

Nói xong, bốn vị ấy ra đi trốn vào chỗ của mình. Bảy ngày sau, bốn người đều chết cả, như trái chín tự rụng. Người quản lý chợ báo cho vua biết có một vị Phạm Chí bỗng dưng chết giữa chợ. Vua chợt tỉnh ngộ bảo:

– Bốn người cùng trốn nghiệp, một người đã chết, ba người kia làm sao tránh khỏi?

Vua liền cho xa giá đến chỗ Phật, đảnh lễ ngồi qua một bên rồi bạch với Phật rằng:

– Gần đây, có bốn anh em Phạm Chí đã đắc ngũ thông, biết rằng mạng mình sắp hết nên cùng nhau trốn quỷ vô thường. Không rõ hiện nay họ có tránh thoát được không?

Đức Phật đáp:

– Này đại vương, người ta có bốn việc không thể tránh khỏi. Bốn việc ấy là gì?

1- Khi ở thân trung ấm không thể không thọ sinh.

2- Đã thọ sinh không thể không có già.

3- Đã già không thể không mang bệnh.

4- Đã bệnh không thể không chịu chết.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Dầu trốn giữa hư không

Hay biển khơi, núi rộng

Không một nơi nào cả

Tránh khỏi được tử vong.

Việc này do mình tạo

Làm sao mà tránh được

Người vì nó bất an

Đưa đến khổ già chết.

Biết vô thường, tự an

Kiến chấp sinh  liền hết

Tỳ-kheo thắng ma binh

Thoát khỏi vòng sinh tử.

Vua nghe Phật nói xong, than rằng:

– Lành thay! Thật đúng như lời Thế Tôn dạy. Bốn người trốn nghiệp, nhưng trong đó một người đã chết, ba người kia làm sao tránh được.

Các quan tùy tùng nghe Phật dạy xong đều tin nhận.

PHẨM THỨ HAI

GIÁO HỌC

1 – MỘT TỲ KHEO BUÔNG LUNG

Thuở xưa, đức Phật trú ở tinh xá kỳ Thọ nước Xá-vệ. Ngài dạy các Tỳ-kheo hãy tinh tấn tu tập đạo nghiệp, dứt trừ các ấm cái, tâm trong sáng, tinh thần định tĩnh, mới có thể tránh được các khổ.

Có một Tỳ-kheo tâm trí không thông đạt, suốt ngày ăn no xong lại vào phòng đóng cửa nằm ngủ. Ông ấy yêu mến huyễn thân, chỉ lo hưởng lạc thích ý mà không biết nghĩ đến vô thường, không ngờ bảy ngày sau mạng mình sẽ hết.

Đức Phật xót thương, sợ rằng sau khi ông mất sẽ đọa vào đường ác nên bước đến phòng gõ cửa cảnh tỉnh ông:

Ôi hãy dậy, đừng mê

Loài rận, ốc, trai, mọt

Ẩn mình trong bất tịnh

Mê hoặc chấp làm thân.

Đâu có bị chém thương

Mà tâm như trẻ bệnh

Đối trước bao ách nạn

Lại tham đắm ngủ nghê.

Biết nghĩ, không phóng dật

Lo học đạo từ bi

Do đó không ưu sầu

Thường nhớ trừ vọng tưởng.

Chánh kiến luôn trau dồi

Là ánh sáng giữa đời

Sinh ra, phước đầy đủ

Chết không đọa ác đạo.

Vị Tỳ-kheo nghe kệ liền giật mình thức dậy. Ông trông thấy Phật đích thân khuyên dạy lại càng kinh sợ, nên liền đứng dậy đảnh lễ đức Thế Tôn. Đức Phật lại hỏi:

– Ông có tự biết túc mạng của mình không?

Vị Tỳ-kheo đáp:

– Vì ấm cái che ngăn nên không
biết được.

Đức Phật bảo:

– Thuở quá khứ, thời Phật Duy Vệ, ông từng xuất gia song vì tham mê lợi dưỡng cung phụng cho huyễn thân, không lo niệm kinh trì giới, ăn no lại ngủ không nhớ đến lẽ vô thường, nên khi mạng chung thần thức đọa vào loài rận, trải qua năm vạn năm, chết rồi lại đọa vào loài trai, sò và sâu mọt trong cây, mỗi loài lại năm vạn năm nữa. Bốn loài này sinh trưởng trong bóng tối, tham yêu thân mạng, thích ở trong chỗ kín đáo tối tăm, lấy đó làm nhà, không thích ánh sáng. Chúng ngủ một giấc dài đến trăm năm, triền miên trong lưới tội lỗi mà không mong cầu giải thoát. Nay ông nhờ trả hết nghiệp tội mới được làm Sa-môn, sao lại còn ham ngủ không biết nhàm chán?

Bấy giờ, vị Tỳ-kheo nghe lại túc duyên của mình, liền hổ thẹn sợ hãi, ăn năn tự trách, quét sạch mây mù ngũ cái, chứng đắc quả A-la-hán.

2. MỘT TIỂU TỲ KHEO SẮP ĐOẠN ÂM

Thuở xưa, đức Phật trú tại tịnh xá Kỳ Hoàn nước Xá-Vệ, vì tứ chúng trời người thuyết pháp. Lúc ấy, có một vị Tỳ-kheo tuổi trẻ, tánh tình khờ dại chất trực, chưa hiểu được yếu nghĩa của đạo. Vị ấy vì tình ý mạnh mẽ luôn nghĩ đến dục, không tự kềm chế được, nên luôn bị lửa dục thiêu đốt, phiền não nhiễu loạn không giải thoát được.

Vị ấy ngồi suy nghĩ: “Nếu ta chặt đứt nam căn, sau này sẽ thanh tịnh đắc đạo”. Nghĩ sao làm vậy, vị ấy liền đi đến nhà người đàn việt mượn cây búa rồi về phòng đóng cửa, cởi đồ, ngồi trên tấm ván định tự chặt đứt nam căn. Ông cho rằng: “Chính cái này khiến ta đau khổ. Trải qua sinh tử biết bao số kiếp, trôi lăn trong tam đồ lục đạo đều do nữ sắc. Nếu không chặt nó đi làm sao đắc đạo?”.

Đức Phật biết ông này vì ngu si nên mới suy nghĩ và hành động như vậy. Thật ra, đạo do chế phục tâm, tâm là nguồn gốc.

Không biết cái chết cận kề mà tự hủy hoại thân thể chỉ gây thêm tội đọa, mãi chịu đau khổ!

Bấy giờ đức Thế Tôn liền bước vào phòng vị ấy, hỏi rằng:

– Ông định làm gì đấy?

Vị Tỳ-kheo liền buông búa, mặc đồ lại, rồi thưa:

– Con học đạo đã lâu mà chưa hiểu được pháp môn tu tập. Mỗi khi tọa thiền, tâm an định sắp đắc đạo lại bị dục niệm che ngăn, lửa lòng lừng lẫy, tâm trí mê mờ, không còn phân biệt gì nữa. Con hết sức tự trách, nghĩ rằng việc này đều do nam căn đòi hỏi, nên mượn búa định chặt đứt nó đi.

Đức Phật nghe xong liền bảo:

– Ông sao ngu si không hiểu đạo lý? Người muốn cầu đạo trước phải dứt trừ si mê rồi sau mới chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc của thiện ác. Muốn dứt trừ tận gốc rễ ái dục phải chế phục tâm. Tâm an định, ý thông hiểu mới đắc đạo được.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Học đạo trước trừ gốc

Bắt vua, ly khai quan

Kẻ tùy tùng tan rã

Là đạo nhân bậc thượng.

Đức Phật lại nói:

– Trong mười hai nhân duyên, si đúng đầu. Si là nguồn của các tội, trí là gốc của các hạnh, vì vậy, trước phải dứt trừ si, sau đó tâm ý mới an định.

Nghe đức Phật dạy xong, vị Tỳ-kheo ấy hổ thẹn tự trách:

– Ta vì ngu si mê hoặc, trước giờ không hiểu rõ kinh điển nên mới có suy nghĩ và hành động sai lầm như vậy. Nay được nghe những lời Phật dạy, thật là vi diệu lắm thay!

Nhờ đó, vị ấy thiền quán theo dõi hơi thở, kiểm soát nội tâm, hàng phục tình ý, dứt hết dục vọng, được chánh định chứng quả A-la-hán ngay trước Phật.

3 – PHẬT KHUYÊN MỘT VỊ TỲ KHEO TU MỘT MÌNH CÒN HƠN KẾT BẠN NGU ĐẦN

Thuở xưa, đức Phật trú tại núi Linh Thứu thành La-duyệt-kỳ vì hàng trời người, quốc vương, đại thần… thuyết pháp cam lộ. Lúc ấy, có một vị Tỳ-kheo tánh nết cang cường, dũng mãnh. Đức Phật biết rõ tâm ý, nên dạy vị ấy:

– Ông hãy ra khe núi Quỷ Thần phía sau núi, ngồi dưới cội cây mà tu tập sổ tức cầu được chánh định. Hãy theo dõi hơi thở biết rõ dài ngắn, giữ tâm ý (An ban thủ ý), dứt vọng tưởng, hết đau khổ sẽ được Niết-bàn.

Tỳ-kheo vâng lời liền đến khe núi tọa thiền. Núi rừng vắng vẻ, đồng vọng tiếng quỷ thần trò chuyện đã khiến cho Tỳ-kheo sinh lòng sợ hãi, không sao an tâm được. Vị ấy hối hận thầm nghĩ: “Mình thuộc dòng dõi lớn, giàu sang sung sướng mà không chịu ở nhà lại đi xuất gia. Học đạo chỉ thấy cô tịch, ở chốn núi sâu không bạn bè, không người qua lại chỉ có quỷ thần đe dọa thôi”.

Vị ấy suy nghĩ như vậy, định bỏ đi thì đức Thế Tôn đã đến bên cạnh, ngồi xuống một gốc cây rồi hỏi:

– Ông ở đây một mình có sợ hãi không?

Vị Tỳ-kheo đáp:

– Đây là lần đầu tiên con vào núi tu tập nên thật rất buồn lo.

Giây lát, có một con voi chúa đến gốc cây cạnh bên nằm, trong lòng hoan hỉ khoan khoái vì lánh xa được bày đàn rộn ràng, ồn náo.

Đức Phật biết được ý của voi nên hỏi vị Tỳ-kheo:

– Ông có biết con voi này vì lý do gì đến đây chăng?

Vị Tỳ-kheo đáp:

– Bạch đức Thế Tôn, con không biết.

Đức Phật bảo:

– Con voi này có hơn năm trăm quyến thuộc lớn nhỏ. Nó vì chán ngán bầy đàn nên bỏ đi đến đây nằm dưới gốc cây và nghĩ rằng: “Xa được ngục tù ân ái thật an vui biết bao?”. Voi là loài súc sinh mà còn biết nghĩ đến rảnh rang yên tĩnh, huống chi ông là người từ bỏ ngũ dục ở  gia đình, cầu được giải thoát mà lại mong muốn có bè bạn. Nên biết bạn bè ngu ám gây ra rất nhiều tai hại. Hãy ở một mình không tiếp xúc bàn luận. Thà sống tu học một mình hơn là kết bạn với kẻ ngu.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Hãy học hạnh độc cư

Nếu không có bạn hiền

Thà một mình tu thiện

Không làm bạn kẻ ngu.

Vui tu học giới hạnh

Cần chi kẻ bên ta

Sống một mình an lạc

Như voi giữa rừng già.

Nghe đức Phật nói xong, Tỳ-kheo chợt tỉnh ngộ, thiền quán lời Phật dạy liền đắc quả A-la-hán. Các quỷ thần nơi khe núi cũng được nghe hiểu, phát tâm quy y làm đệ tử Phật. Từ đó họ phụng trì giáo pháp, không còn làm hại nhân dân. Đức Phật và Tỳ-kheo mới đắc quả cùng nhau trở lại tịnh xá.

PHẨM THỨ BA

HỘ GIỚI

GẦN PHẬT VÀ XA PHẬT

Thuở xưa, đức Phật trú tại tịnh xá Kỳ Hoàn nước Xá-vệ, vì hàng trời người thuyết pháp. Lúc ấy, ở thành La-duyệt-kỳ có hai vị tân học Tỳ-kheo muốn được gặp tôn dung đức Thế Tôn, không ngại xa xôi lên đường sang nước Xá-vệ. Con đường giữa hai nước hoang vắng không có dân cư, lại gặp lúc hạn hán, các suối nước đều khô cạn. Hai vị Tỳ-kheo đi xa mệt mỏi, nóng bức và nhất là đói khát. Họ bỗng gặp một vũng nước còn đọng lại giữa lòng suối, nhưng nước ấy lại có các loại côn trùng nhỏ không thể uống được. Hai vị bàn với nhau rằng:

– Chúng ta từ xa đến, cốt ý là gặp được đức Thế Tôn, không ngờ hôm nay lại phải chết nơi đây.

Một người đề nghị:

– Chúng ta hãy uống nước để giữ mạng sống của mình đến ra mắt Phật. Ai mà biết được chuyện nhỏ nhặt này?

Người kia trả lời:

– Đức Phật chế giới lấy từ bi bất sát làm đầu. Nếu chúng ta giết hại chúng sinh để giữ sự sống cho mình thì dầu gặp Phật nào có ích gì? Tôi thà giữ giới mà chết, quyết không phạm giới mà sống!

Do đó, một vị uống nước thỏa thích rồi lên đường đi tiếp. Còn vị kia vì không uống nên đã chết khát, liền sinh lên cung trời Đao Lợi thứ hai. Vị trời ấy quan sát thấy túc mạng của mình, nên suy nghĩ: “Ta nhờ trì giới không phạm nên nay mới được sinh lên cõi này, phước báo quả thật chẳng  xa!”. Nghĩ như vậy xong, vị trời ấy bèn mang hương hoa xuống đến chỗ Phật, đảnh lễ cúng dường rồi đứng qua một bên.

Còn vị Tỳ-kheo uống nước sau nhiều ngày đi đường khổ nhọc, cuối cùng đã đến nơi. Vị ấy thấy đức Thế Tôn thần đức uy nghi bèn cúi đầu làm lễ rồi khóc lóc thưa rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, con cùng đi với một người bạn, nhưng chẳng may vị ấy đã chết dọc đường. Thật cảm thương cho vị ấy không gặp được đức Thế Tôn.

Đức Phật bảo:

– Ta đã biết rõ.

Rồi Ngài chỉ vị trời đứng bên cạnh nói:

– Vị trời này chính là bạn ông! Vị ấy nhờ giữ trọn giới pháp nên được sinh thiên lại đến đây trước.

Bấy giờ đức Thế Tôn vén y bày ngực cho vị ấy thấy rồi nói:

– Ông thấy thân ta mà không gìn giữ giới pháp, tuy nói thấy ta mà ta không thấy ông. Còn người cách xa ta ngàn dặm mà gìn giữ kinh giới, thì thật gần gũi trước mặt ra.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Người đa văn học rộng

Lại nghiêm trì giới luật

Hai đời đều được khen

Và thành tựu sở nguyện.

Kẻ ít nghe, học kém

Không nghiêm giữ giới điều

Hai đời đều đau khổ

Sở nguyện cũng mất tiêu.

Phàm tu học có hai:

Thường thân cận nghe dạy

Hiểu sâu chắc nghĩa lý

Nguy khốn chẳng đổi thay.

Tỳ-kheo nghe kệ xong, suy xét lại việc làm của mình cảm thấy hổ thẹn bèn đảnh lễ đức Thế Tôn cầu xin sám hối. Còn vị trời nghe kệ tâm rất hoan hỉ, chứng được Pháp nhãn. Chúng hội trời người không ai là không y giáo phụng hành.

PHẨM THỨ TƯ

ĐA VĂN

1 – CON DAO TRONG TÂM

Thuở xưa, nước Xá-vệ có hai vợ chòng nhà đã nghèo mà lại keo bẩn, không tin đạo đức. Đức Phật thương xót họ ngu mê, muốn cứu độ nên hóa làm một vị Sa-môn tướng mạo tầm thường, đói rách đến nhà đó khất thực. Lúc ấy, người chồng đi vắng, người vợ thấy Sa-môn liền nặng lời mắng chửi, bất kể đạo lý. vị Sa-môn nói:

– Tôi là tu sĩ đi xin để sống qua ngày. Cô không nên chửi mắng như vậy. Tôi chỉ mong được một bữa cơm thôi.

Bà vợ bảo:

– Dù ông có đứng chết ngay đó tôi cũng không cho, huống chi là mạnh khỏe như vậy mà mong tôi cho ăn! Ông ở đó chỉ tốn thời gian vô ích, nên sớm cút đi cho rồi!

Nghe vậy, vị Sa-môn liền đứng ngay đó trợn mắt tắt hơi, hiện ra tướng chết, thân thể sình trương, miệng mũi giòi bò, bụng nứt ruột rã, đồ bất tịnh chảy tràn. Bà ấy trông thấy sợ hãi, hoảng hồn bỏ chạy. Bấy giờ Sa-môn hiện tướng lại như cũ, bỏ đi đến gốc cây cách nhà ấy vài dặm ngồi nghỉ.

Người chồng về giữa đường bỗng thấy vợ mình chạy hớt hơ hớt hãi, lấy làm lạ liền hỏi nguyên do. Bà vợ kể lại có một ông Sa-môn làm mình sợ hãi như vậy. Chồng nghe xong, nổi giận, bèn hỏi:

– Ông ấy bây giờ ở đâu?

Vợ đáp:

– Đã bỏ đi rồi, nhưng chắc chưa xa lắm.

Ông chồng vội mang cung, xách đao lần theo dấu vết tìm đến chỗ Sa-môn, định chém chết ông ta.

Vị Sa-môn liền hóa ra tòa nhỏ thành pha lê vây bọc quanh mình. Người chồng đi quanh mấy vòng không cách nào vào được nên hỏi đạo nhân:

– Này đạo sĩ, sao ông không mở
cửa thành?

Sa-môn đáp:

– Muốn mở cửa thành, ông hãy quăng bỏ cung đao đi.

Người chồng suy nghĩ: “Mình nên nghe lời ông ấy. Nếu vào được thành, mình tay không cũng đủ sức đánh chết ông ta”. Nghĩ vậy xong, ông quăng bỏ cung đao, song cửa thành vẫn không mở. Ông thấy vậy nói với Sa-môn:

– Tôi đã quăng bỏ cung đao đi rồi, sao cửa thành vẫn không mở.

Sa-môn đáp:

– Ta muốn nói ông hãy ném bỏ cung đao ác ý trong tâm, chớ không phải ném bỏ cung đao trong tay!

Bấy giờ, người chồng trong lòng kinh sợ, không ngờ Sa-môn là bậc thần thánh biết được tâm mình. Ông bèn dập đầu sám hối rồi bạch rằng:

– Con có vợ tệ hại không biết bậc chân nhân, đã khiến con khởi ác niệm. Xin Ngài từ bi tha thứ lỗi lầm. Nay con xin dẫn vợ đến sám hối, nghe lời khuyên dạy để biết tu đạo.

Nói xong, người ấy đứng dậy ra về. Người vợ đón chồng hỏi:

– Ông Sa-môn ấy đâu rồi?

Người chồng bèn thuật lại đầy đủ oai đức thần thông của vị Sa-môn rồi khuyên:

– Vị Sa-môn ấy vẫn còn ở đó, bà nên đến sám hối để diệt trừ tội lỗi.

Hai vợ chồng đến chỗ Sa-môn, năm vóc phủ phục sát đất đảnh lễ xin sám hối, nguyện làm đệ tử, rồi quì thẳng hỏi rằng:

– Ngài là bậc thần thông oai đức, có thể hóa ra thành pha lê kiên cố khó thể vượt qua, tâm định trí sáng, mãi mãi không còn sầu lo là do thực hành đạo đức gì mà được như vậy?

Sa-môn đáp:

– Ta nhờ học rộng giáo pháp không biết nhàm chán, phụng hành chánh đạo không có giải đãi, tinh tấn trì giới tu tuệ không có phóng dật, nên đạt đến Niết-bàn.

Bấy giờ vị Sa-môn liền nói kệ:

Đa văn: sức kiên cố

Phụng pháp: bờ tường thành

Tinh tấn: khó phá vượt

Nhờ đó giới tuệ sinh.

Đa văn giúp sáng tâm

Tâm sáng, trí tuệ tăng

Có trí hiểu rộng nghĩa

Rõ nghĩa tu không lầm.

Đa văn hết ưu phiền

Luôn vui trong thiền định

Khéo nói Pháp cam lộ

Đến được chỗ vô sinh.

Nhờ nghe, biết pháp luật

Hết nghi, thấy đạo chánh

Do nghe hết phi pháp

Tu đến bất tử thành.

Sa-môn nói kệ xong, hiện lại thân Phật, hào quang rực rỡ soi sáng cả đất trời. Hai vợ chồng vừa kinh ngạc, vừa sợ hãi, hết lòng ăn năn cải hối, đảnh lễ đức Thế Tôn. Nhờ đó, họ tiêu được hai mươi ức kiếp tội ác, đắc quả Tu-đà-hoàn.

2 – PHẠM CHÍ CẦM ĐUỐC

Thuở xưa đức Phật trú tại tịnh xá Mỹ Âm nước Câu-siểm-ni vì tứ chúng đệ tử giảng nói chánh pháp. Lúc ấy, có một vị Phạm Chí thông minh học rộng, hiểu biết rất nhiều kinh sách không việc gì mà không thông. Ông ta nhân đó cống cao ngã mạn cho là thiên hạ không ai bằng mình. Ông đi khắp nơi tìm người tranh luận, nhưng không ai dám.

Một hôm, giữa ban ngày ông cầm đuốc đi vào trong thành. Người ta lấy làm lạ hỏi:

– Ông vì sao ban ngày cầm đuốc
đi đường?

Phạm Chí đáp:

– Trên đời đều là người ngu tối, mắt không trông thấy gì cả, cho nên tôi cầm đuốc để soi sáng cho họ. Tôi đã tìm thấy khắp nơi mà chẳng có ai dám cùng tôi biện luận.

Đức Phật biết Phạm Chí có phước duyên đời trước, có thể độ được. Song nếu ông ta cống cao cầu danh, không nghĩ đến vô thường, cậy mình khinh người như vậy sẽ đọa vào địa ngục vô số kiếp khó mong ra khỏi. Ngài liền hóa ra một nhà hiền triết ngồi giữa chợ, gọi vị Phạm Chí lại hỏi:

– Vì sao ông lại làm như vậy?

Vị Phạm Chí đáp:

– Vì mọi người ngu tối, ngày đêm không thấy ánh sáng nên tôi cầm đuốc soi rọi cho họ.

Nhà hiền triết lại nói:

– Trong kinh có nói đến bốn pháp sáng suốt, ông đã nghe qua chưa?

Đáp rằng:

– Tôi chưa nghe qua.

Nhà hiền triết nói:

– Bốn pháp đó là: 1- Hiểu thông thiên văn địa lý và sự điều hòa bốn mùa. 2- Hiểu thông tinh tú và chuyển vận ngũ hành. 3- Nắm vững cách trị nước an dân. 4- Nắm vững việc cầm quân giữ nước. Ông là Phạm Chí có thông thạo bốn pháp này không?

Phạm Chí nghe nói trong lòng rất hổ thẹn, ném bỏ đuốc đi, rồi chắp tay cung kính, thầm biết rằng mình còn kém cỏi. Đức Phật biết tâm ông đã thuần liền hiện lại thân Phật, hào quang rực rỡ tỏa khắp đất trời, rồi nói kệ:

Nếu hiểu biết chút ít

Tự cao, khinh khi người

Như đuốc Bồ-tát, kẻ mù cầm

Người sáng, mình tối tăm.

Đức Phật nói kệ xong, bảo với Phạm Chí rằng:

– Không có ai ngu tối như ông, ban ngày lại cầm đuốc đi vào nước lớn. Sự hiểu biết của ông thật nhỏ nhòi, như hạt cát trong sa mạc.

Phạm Chí nghe xong tỏ vẻ hổ thẹn, cúi đầu đảnh lễ xin làm đệ tử. Đức Phật nhận lời cho ông làm Sa-môn. Nhờ tâm trí khai sáng, vọng tưởng an định nên ông liền chứng quả A-la-hán.

3 – TU ĐẠT KHUYÊN BẠN THỈNH PHẬT

Thuở xưa, nước Xá-vệ có một vị đại trưởng giả tên là Tu-đạt đã chứng quả Tu-đà-hoàn. Bạn ông là trưởng giả Hiếu Thí lại không tin đạo Phật và các y thuật.

Một hôm, trưởng giả Hiếu Thí lâm trọng bệnh nằm liệt trên giường. Thân thuộc và bè bạn nghe tin đến thăm, khuyên ông nên trị bệnh, nhưng ông khăng khăng dầu chết cũng không chịu.

Ông trả lời với mọi người:

– Tôi thờ mặt trời, mặt trăng, trung với vua, hiếu với cha. Tôi nguyện theo suốt đời, dầu chết cũng không đổi chí.

Trưởng giả Tu-đạt nói:

– Thầy tôi chính là đức Phật, oai đức khắp nơi, ai gặp đều được lợi ích. Anh hãy thử thỉnh Ngài đến giảng kinh, chú nguyện. Nghe được lời Phật dạy sẽ cải thiện ngôn hành, không giống với các đạo khác đâu. Còn việc theo hay không theo, đó là tùy ở ý anh. Anh bệnh lâu ngày như vậy, biết đâu nhờ phước thỉnh Phật sẽ được thuyên giảm.

Hiếu Thí đáp:

– Tốt lắm, xin anh hãy thỉnh Phật và chúng đệ tử giùm tôi.

Trưởng giả Tu-đạt liền thỉnh Phật và Tăng chúng. Đức Phật đến trước cửa nhà trưởng giả Hiếu Thí bèn phóng hào quang soi sáng khắp trong ngoài. Hiếu thí thấy được ánh sáng tâm sinh hoan hỉ, thân thể nhẹ nhõm. Đức Phật đến trước Hiếu Thí ngồi xuống, rồi an ủi thăm hỏi:

– Ông bệnh ra sao? Trước giờ tin thờ vị thần nào và đã trị liệu gì chưa?

Trưởng giả thưa rằng:

– Bạch đức Phật, con phụng thờ mặt trời, mặt trăng, vua chúa, tổ tiên. Con từng kính giữ trai giới đến cầu xin được mọi điều may mắn. Thế nhưng nay bị bệnh đã lâu mà vẫn chưa được ân cứu giúp. Còn việc y dược, châm cứu là điều gia đình kiêng kỵ. Đến như việc tu học kinh giới, gây tạo phước đức chúng con vốn không biết gì. Từ tổ tiên truyền đến nay, gia đình chúng con đều tuân thủ nghiêm ngặt như thế.

Đức Phật nói với trưởng giả:

– Người sống ở đời có ba trường hợp bị chết oan: 1- Có bệnh không điều trị. 2- Điều trị không cẩn thận. 3- Không biết hay dở, tự tiện điều trị.

Bệnh này không thể nhờ vào mặt trời, mặt trăng, trời đất, tổ tiên, vua chúa hay cha mẹ mà có thể trị lành. Phải sáng suốt hiểu đạo, tùy thời trị liệu cho được an ổn. 1- Tứ đại bất hòa nóng lạnh thì cần y dược. 2- Bị tà ma nhiễu loạn thì cần tu niệm kinh giới. 3- Phụng thờ các bậc hiền thánh, thương yêu cứu giúp khổ nạn chúng sinh, đem oai thần phước đức bảo bọc quần sinh, dùng đại trí tuệ diệt trừ ấm cái.

Ông nếu làm được như vậy thì đời này sẽ sống an lành, không bị chết oan. Nhờ giới đức trí tuệ thanh tịnh nên đời đời thường được an ổn.

Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Thờ mặt trời vì sáng

Thờ cha vì biết ân

Thờ vua vì uy lực

Thờ thầy vì nghe đạo.

Cầu y sĩ vì mạng

Dựa cường hào vì hơn

Hiểu pháp nhờ trí tuệ

Tu phước đời đời vui.

Xét bạn: xem việc làm

Rõ bạn: lúc nạn gấp

Hiểu vợ: khi hoan lạc

Biết kẻ trí: qua lời.

Là thầy giỏi thấy đạo

Giải nghi, giúp trò hiểu

Dạy cho pháp thanh tịnh

Gìn giữ được Pháp tạng.

Nhờ nghe hiện đời lợi

Cả vợ con anh em

Đời sau cũng lợi ích

Nghe nhiều thành thánh trí.

Thu nhiếp nhờ hiểu nghĩa

Hiểu nghĩa giới trang nghiêm

Người thọ pháp hành trì

Nhờ đó bệnh được an.

Được vậy, hết giận sầu

Cũng không có tai ương

Muốn an ổn kiết tường

Hãy thờ người học rộng.

Bấy giờ trưởng giả nghe Phật thuyết pháp, những nghi ngờ liền dứt sạch như mây mù tan tác. Ông cho mời lương y đến trị bệnh và chuyên tâm tu học đạo. Nhờ vậy tứ đại điều hòa, bệnh tật không còn, như uống nước cam lộ, trong ngoài khoan khoái, thân tâm an định, đắc quả Tu-đà-hoàn. Thân thuộc và người trong nước ai nấy đều kính nể ông.

4 – PHẬT HÀNG PHỤC BỌN CƯỚP

Thuở xưa, phía nam thành La-duyệt-kỳ có một núi lớn cách thành hai trăm dặm. Các con đường lớn phía nam đều đi ngang qua núi này. Trong núi có năm trăm tên cướp dựa vào địa thế hiểm trở để cướp bóc. Về sau chúng lại lộng hành gây hại bừa bãi, khiến các thương buôn bị cướp không dám đi qua. Giao thông do đó bị tắc nghẽn. Quốc vương đã nhiều lần đem binh truy bắt bọn chúng nhưng vẫn không dẹp được.

Bấy giờ đức Phật đang giáo hóa ở trong nước. Ngài thương xót chúng sinh, nghĩ rằng bọn cướp kia không biết tội phước. Như Lai ra đời mà mắt họ không thấy, pháp cổ vang rền mà tai họ không nghe. Ta nếu không đến hóa độ, họ sẽ mãi mãi sa đọa như đá chìm dưới khe sâu.

Vì vậy, đức Phật liền hóa ra một người cưỡi ngựa ăn mặc đẹp đẽ, vai mang kiếm báu, tay cầm cung tên. Con ngựa được thắng yên vàng, dàm nạm bạc, lại có đeo viên ngọc Minh Nguyệt trên mình. Người ấy cưỡi ngựa thúc chạy vào núi.

Bọn cướp trông thấy mừng rỡ vì gặp được món hời. Chúng nghĩ: “Mình nhiều năm ăn cướp mà chưa gặp món hàng nào đắt giá như vậy. Với sức một người mà chống lại chúng ta có khác chi lấy trứng chọi đá?”. Suy nghĩ như vậy nên cả bọn đều kéo ra chặn đầu ngựa lại, rồi bao vây rút đao giương cung định sát hại người kia.

Lúc ấy, hóa nhân liền giương cung bắn, múa kiếm chém khiến mỗi tên cướp đều trúng tên và mang thương Vì mũi tên sâu, vết thương nặng nên cả bọn đều té lăn lộn trên đất. Năm trăm tên cướp lần lượt dập đầu xin quy hàng, thưa rằng:

– Ngài là thần tiên phương nào mà oai lực như vậy. Xin Ngài hãy tha cho chúng con được sống. Chúng con bị thương, đau nhức không chịu đựng nổi, xin hãy mau nhổ tên, trị lành vết thương cho chúng con ngay.

Hóa nhân đáp:

– Vết thương này chưa phải nặng, mũi tên này chưa phải sâu. Trong thiên hạ, vết thương nặng nhất không gì hơn âu lo; tai hại lớn nhất không gì hơn ngu muội. Các ông mang mối âu lo do lòng tham cầu, có tâm ngu muội của sự giết hại. Đao thương độc tiễn này không thể chữa khỏi. Gốc rễ của hai thứ này rất sâu chắc, dầu kẻ lực sĩ mạnh mẽ cũng không nhổ nổi. Chỉ có giáo pháp giới luật, đa văn trí tuệ mới có thể trị lành tâm bệnh, nhổ sạch buồn, yêu, ngu si, cống cao và chế phục tham dục mạnh mẽ. Hãy gây tạo phước đức, tu học trí tuệ mới có thể trừ được các tai họa trên, mãi mãi được an ổn.

Bấy giờ, hóa nhân liền hiện lại thân Phật sắc vàng thù diệu và nói kệ:

Sầu lo vết thương nặng

Ngu muội mũi tên sâu

Dầu mạnh không nhổ nổi

Đa văn trừ được thôi.

Mù nhờ nghe được mắt

Tối nhờ nghe được đèn

Ai dạy bảo thế gian

Như người sáng dẫn lòa.

Vậy hãy dứt si mê

Bỏ sang giàu kiêu mạn

Siêng học bậc đa văn

Đó là tích tụ đức.

Bấy giờ năm trăm tên cướp thấy hào quang đức Phật, lại được nghe kệ khai thị nên đảnh lễ quy y, hết lòng ăn năn sửa đổi. Do đó, vết thương họ cũng tự nhiên lành lại. Họ vô cùng hoan hỉ, tâm trí khai thông, thọ trì ngũ giới. Từ đó trong nước trở lại yên bình, nhân dân ai cũng hoan hỉ.

PHẨM THỨ NĂM

ĐỐC TÍN

1 – PHẬT ĐỘ HƠN 500 GIA ĐÌNH Ở VEN SÔNG

Thuở xưa, phía đông nam nước Xá-vệ có một con sông lớn vừa rộng lại vừa sâu. Bên tả ngạn có hơn năm trăm gia đình chưa biết đạo đức, không tu giải thoát. Họ quen thói ương ngạnh, dối trá, tham lợi, buông lung theo tình ý.

Đức Thế Tôn thường quán sát ai căn tánh có thể độ được thì đến hóa độ. Bấy giờ Ngài thấy các gia đình này có phước duyên đáng độ, nên đến bên bờ sông ngồi dưới một cội cây. Người làng thấy hào quang đức tướng của Phật, ai cũng kinh ngạc cung kính, đồng đến đảnh lễ và hỏi thăm. Đức Phật bảo mọi người ngồi xuống rồi thuyết pháp cho họ nghe. Nhưng tập khí gian dối, giải đãi của họ quá dày, nên dầu họ nghe mà không tin nhận lời chân thật. Đức Phật bèn hóa ra một người từ bên kia sông đi trên mặt nước, nước chỉ ngập gót, hướng đến chỗ Phật. Người đó đến nơi liền đê đầu lễ Phật. Mọi người trông thấy kinh ngạc, hỏi rằng:

– Từ tổ tiên chúng ta đến nay đều sinh sống bên bờ sông này mà chưa từng thấy ai đi trên mặt nước, ông là ai mà có pháp thuật đi trên nước không chìm. Xin hãy cho chúng tôi biết?

Hóa nhân đáp:

– Tôi là người chân chất ở bên kia sông, nghe đức Phật ở đây nên vì hâm mộ đạo đức mà tìm đến. Tôi đến bờ sông gặp lúc không có ghe thuyền, liền hỏi người dân bên kia nước nông hay sâu. Họ nói:

– Nước chỉ ngập gót, sao không đi bộ qua? Tôi tin lời nên đi bộ qua đây, thật ra không có pháp thuật gì lạ.

Đức Phật nghe xong khen ngợi:

– Lành thay! Lành thay! Người có lòng tín thành có thể qua được bên kia bờ vực sinh tử. Con sông rộng chỉ vài dặm này, qua được đâu có gì lạ.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đức tin qua được biển

Thu nhiếp là thuyền sư

Tinh tấn trừ hết khổ

Trí tuệ đến bờ kia.

Kẻ sĩ có tín hạnh

Bậc Thánh thường ngợi khen

Người vui đạo tịch tĩnh

Mọi trói buộc giải trừ.

Có tin mới đắc đạo

Y pháp đến Niết-bàn

Nhờ nghe thành trí tuệ

Đến được chỗ quang minh.

Có tín và giữ giới

Tuệ quán siêng năng hành

Bậc trượng phu trí tuệ

Qua được biển tử sinh.

Bấy giờ người trong làng nghe Phật nói kệ khai thị, lại thấy người có đức tin qua được qua sông làm bằng chứng, nên sinh tín tâm kiên cố, thọ trì Ngũ giới làm Phật tử tại gia. Nhờ người trong làng đó có lòng tin hiểu tu hành, nên Phật pháp được phổ biến khắp nơi.

2 – TỲ ĐÀ LA LÀM TRỌN LỜI HỨA CỦA CHA

Thuở xưa, lúc đức Phật còn tại thế có một vị trưởng giả tên là Tu-đà-la, giàu có vô số, tín ngưỡng đạo đức. Ông có lời thệ nguyện vào ngày mùng tám tháng chạp hằng năm thỉnh Phật và Tăng chúng về nhà cúng dường. Ông nguyện trọn đời thực hành và nếu mất đi, con cháu cũng phải tiếp tục không bỏ. Vì vậy trước khi mất, ông đã ân cần dặn dò con mình là Tỷ-đà-la phải thay mình lo việc cúng dường.

Tỷ-đà-la vâng lời cha dạy, hằng năm thiết trai cúng dường. Nhưng về sau, gia cảnh lần lần nghèo khó. Tháng chạp đã đến mà trong nhà không có gì nên Tỷ-đa-la rất lo buồn. Đức Phật sai tôn giả Mục Liên đến hỏi:

– Ngày cúng dường hằng năm của cha ông sắp đến, ông đã chuẩn bị gì chưa?

Tỷ-đà-la đáp:

– Lời dặn bảo của cha, con đâu dám trái. Mong đức Thế Tôn từ bi tưởng đến, vào giờ ngọ ngày mùng tám quang lâm nhà con.

Tôn Giả Mục Liên liền trở về thưa lại với Phật như vậy. Về phần Tỷ-đà-la, ông cùng với vợ con đi vay mượn một trăm lượng vàng, sắm sửa đầy đủ đồ cúng dường cho ngày mùng tám. Đúng ngày ấy, đức Phật cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đến thọ trai. Lễ cúng dường viên mãn. Tỷ-đà-la vô cùng hoan hỉ, không chút hối tiếc. Giữa đêm hôm ấy, trong các kho cũ tự nhiên bảo vật đều đầy đủ như xưa.

Sáng sớm hôm sau hai vợ chồng Tỷ-đà-la trông thấy vừa mừng lại vừa sợ. Họ sợ quan tra hỏi của cải này từ đâu mà có. Hai vợ chồng bàn nhau nên đến hỏi Phật. Rồi cả hai đến chỗ Phật trình bày đầy đủ sự việc. Đức Phật nói với Tỷ-đà-la:

– Ông hãy an tâm sử dụng, không nên nghi sợ, ông không trái lời cha, dầu chết cũng không thay đổi, ông có tín tâm, trì giới, tàm, quí, đa văn, bố thí, trí tuệ. Nhờ có đầy đủ bảy món báu này nên phước đức chiêu cảm như thế, không phải là tai họa đâu. Người trí biết tu hành thì không luận là nam hay nữ sinh ra chỗ nào phước cũng tự nhiên sẵn đủ.

Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ:

Niềm tin và giới hạnh

Hổ mình, thẹn với người

Đa văn, thí, trí huệ

Đây là bảy món báu.

Nhờ tin nên giữ giới

Thường tịnh quán các pháp

Trí tuệ luôn trau dồi

Lời Phật dạy chẳng quên.

Sống có những báu này

Không luận nam hay nữ

Trọn đời không đói nghèo

Người hiền biết lẽ chân.

Tỷ-đà-la nghe Phật nói, lòng tin Tam bảo càng kiên cố, đảnh lễ dưới chân Phật rồi về nhà. Ông đem những lời Phật dạy thuật lại đầy đủ cho người nhà nghe. Nhờ đó ai cũng tin tưởng Phật pháp, được lợi ích lớn.

PHẨM THỨ SÁU

CẨN THẬN GIỮ GIỚI

1 – PHẬT ĐỘ 5 VỊ SA MÔN Ở NÚI XA THÀNH

Thuở xưa, nước Ba-la-nại có một hòn núi cách thành bốn năm mươi dặm. Trên núi có năm vị Sa-môn ở tu học. Mỗi ngày vào lúc sáng sớm, năm vị ấy xuống núi vào thành khất thực. Sau khi thọ thực xong, họ trở về núi thì trời đã tối, thân thể mệt mỏi, không thể tọa thiền tu tập chỉ quán. Vì vậy, trải qua nhiều năm tu tập mà họ không chứng được đạo quả.

Đức Phật biết chuyện, thương xót họ nhọc nhằn mà không thu được kết quả, nên hóa thành một vị đạo nhân đến núi đó thăm hỏi các Sa-môn:

– Các vị ẩn tu ở đây, có nhọc mệt
lắm không?

Các vị Sa-môn đáp:

– Chúng tôi ở đây cách thành rất xa. Vì chuyện ăn uống mà mỗi ngày chúng tôi phải vào thành khất thực. Việc đi về rất vất vả. Nhiều năm cực khổ, sớm đi tối về như vậy, chúng tôi không còn thời giờ để tu tập, có lẽ suốt đời phải chịu như thế!

Vị đạo nhân nói:

– Người hành đạo phải lấy giới làm căn bản, lấy nhiếp tâm làm công hạnh, cọi nhẹ thân thể, quí trọng chân lý, xả thân cầu đạo, ăn uống là để duy trì mạng sống tu tập thiền định. Phải hướng đến mục đích đắc đạo mà tu học chỉ quán, dứt trừ vọng tưởng. Còn nếu chỉ lo cung dưỡng thân thể, chiều theo đòi hỏi thì làm sao thoát được khổ đau? Ngày mai các vị đừng xuống núi, nghỉ ngơi một ngày, tôi sẽ lo việc cúng dường.

Lúc ấy năm vị Sa-môn rất hoan hỉ trước việc hy hữu này. Ai nấy tâm ý đều an định, không còn lo chuyện đi khất thực. Giờ ngọ ngày hôm sau, vị đạo nhân mang thức ăn đến. Năm vị Sa-môn thọ trai xong, tâm ý thư thái, an tịnh. Bấy giờ đạo nhân nói kệ:

Tỳ-kheo thọ trì giới

Gìn giữ nhiếp các căn

Biết tiết độ uống ăn

Ý luôn luôn tỉnh giác.

Lấy giới hàng phục tâm

Giữ ý luôn chánh định

Trong tu tập chỉ quán

Chánh trí thường hiện tiền.

Sáng suốt gìn giữ giới

Trong chánh trí tư duy

Hành đạo nếu tương ưng

Tự thanh tịnh hết khổ.

Vị đạo nhân nói kệ xong, liền hiện lại thân Phật từ quang rực rỡ. Năm vị Sa-môn phấn chấn tinh thần, thúc liễm thân tâm, tư duy chánh trí liền chứng quả A-la-hán.

PHẨM THỨ BẢY

DUY NIỆM

PHẬT ĐỘ VUA PHẤT DA SA

Thuở đức Phật còn tại thế, vua Phất-gia-sa và vua Bình-sa là bạn thân với nhau. Vua Phát-gia-sa chưa biết Phật pháp. Ông làm một bông hoa bằng bảy báu rồi tặng vua Bình-sa. Vua Bình-sa nhận được, đem dâng lên Phật, thưa rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, vua Phất-gia-sa là bạn, tặng con đóa hoa báu này. Nay con đem dâng lên Phật, nguyện cho vua Phất-gia-sa tâm ý mở mang, gặp Phật nghe Pháp, cung kính Thánh Tăng. Nay con nên lấy vật gì để tặng lại vua ấy?

Đức Phật đáp:

– Vua hãy chép kinh Thập Nhị Nhân Duyên đem tặng. Vua ấy nhận được kinh, xem xong sẽ tin hiểu lời Phật.

Vua Bình-sa nghe lời, viết kinh Thập Nhị Nhân Duyên rồi gởi kèm theo một lá thư, nói rằng: “Bạn tặng tôi đóa hoa bảy báu, nay tôi tặng lại đóa hoa chánh pháp. Xin hãy suy nghĩ rõ ràng những nghĩa lý trong kinh sẽ được lợi ích to lớn, tốt đẹp. Tôi muốn bạn tụng đọc và tu tập để cùng tôi chia sẻ pháp vị”.

Vua Phất-gia-sa nhận được kinh, liền đọc và suy xét nghĩa lý cẩn thận, rồi bỗng tin hiểu chánh pháp. Vua hết lời tán thán:

– Phật lý thật vi diệu, có thể giúp cho tâm người an định, nước nhà phồn vinh. Năm dục là cội nguồn ưu não, ta đã nhiều đời đam mê nay mới tỉnh ngộ. Ta còn tham luyến dục lạc thế gian nữa làm gì?

Vua bèn triệu tập quần thần nhường ngôi cho thái tử, rồi tự xuống tóc làm Sa-môn. Phất-gia-sa mặc pháp phục, ôm bình bát đến ngoài thành La-duyệt-kỳ tá túc tại lò nung của nhà một người thợ gốm, định sáng mai vào thành khất thực, thọ trai xong sẽ đến chỗ Phật lãnh thọ kinh giới.

Đức Phật với thần thông biết được ngày mai lúc khất thực Phất-gia-sa sẽ mạng chung. Ông ta từ xa lại mà không được gặp Phật, không được nghe kinh Phật thật đáng xót thương! Vì thế đức Thế Tôn hóa thành một vị Sa-môn cũng đến nhà người thợ gốm xin nghỉ qua đêm. Người chủ nói:

– Có một vị Sa-môn đã ở trước trong lò nung, ông có thể ở chung qua đêm với vị ấy.

Vị Sa-môn bèn mang cỏ vào lò nung, trải ngồi bên cạnh Phất-gia-sa, rồi
thăm hỏi:

– Ông từ đâu đến? Thầy ông là ai? Vì nhân duyên gì mà làm Sa-môn? Đã gặp Phật chưa?

Phất-gia-sa đáp:

– Tôi chưa gặp Phật, chỉ nghe kinh Thập Nhị Nhân Duyên mà xuất gia làm Sa-môn. Tôi định ngày mai vào thành khất thực sẽ đến ra mắt Phật.

Vị Sa-môn kia nói:

– Mạng người mong manh sớm còn tối mất. Vô thường nghiệp báo không hẹn chợt đến. Chỉ cần quán sát thân tứ đại do đâu mà có, tạm hợp thành rồi sẽ hoạt diệt. Đất nước gió lửa sẽ trả về cho đất nước gió lửa! Hãy tư duy tỉnh giác, tâm vắng lặng không có vọng tưởng, chuyên niệm Tam bảo, bố thí, giới đức. Nếu có thể biết được lẽ vô thường thì cũng như thấy Phật! Nghĩ đến việc ngày mai chỉ là vọng tưởng vô ích.

Bấy giờ vị Sa-môn liền nói kệ:

Phàm người được thiện lợi

Là tự quy y Phật

Cho nên ngày lẫn đêm

Thường niệm Phật Pháp Tăng.

Tỉnh giác biết rõ mình

Đó là đệ tử Phật

Ngày đêm thường nên niệm

Phật Pháp và chúng Tăng.

Niệm thân, niệm vô thường

Niệm giới, đức, bố thí

Không bất nguyện, vô tưởng

Đêm ngày niệm như trên.

Lúc đó vị Sa-môn lại giảng thuyết yếu nghĩa vô thường cho Phất-gia-sa. Phất-gia-sa nhất tâm thiền quán liền chứng quả A-na-hàm. Đức Phật biết, Phất-gia-sa đã giác ngộ, liền hiện lại thân Phật đức tướng quang minh. Phất-gia-sa kinh ngạc vui mừng khôn tả, liền cúi đầu đảnh lễ Phật. Đức Phật lại dặn ông lần nữa:

– Tướng tội báo cũng vô thường, ông đừng nên lo sợ.

Phất-gia-sa đáp:

– Con xin vâng lời dạy bảo.

Sau đó đức Phật từ giã ra đi. Giờ ngộ ngày hôm sau, Phất-gia-sa vào thành khất thực. Khi đi ngang qua cổng thành, Phất-gia-sa bị một con bò mẹ mới sinh con húc thủng bụng chết. Ông liền sinh lên cõi trời A-na-hàm.

Đức Phật sai các đệ tử đem di thể ông trà tùy, xây tháp thờ. Đức Phật nhân đó dạy đại chúng:

– Hãy cẩn thận đối với những nguyên nhân gây ra tội báo.

PHẨM THỨ TÁM

NHÂN TỪ

1 – PHẬT ĐỘ GIA ĐÌNH THỢ SĂN ĐỔI NGHỀ

Thuở xưa, đức Phật trú tại thành La-duyệt-kỳ. Cách nước này năm trăm dặm có một hòn núi là nơi cư trú của một gia tộc gồm một trăm hai mươi hai người sinh trưởng tại đó. Họ sống bằng nghề săn bắn trong rừng, mặc áo da, ăn thịt thú mà không biết làm ruộng rẫy. Tín ngưỡng của họ là thờ cúng quỷ thần, chưa biết gì về Tam bảo. Đức Phật với thánh trí thấy họ có thể độ được nên đến đó ngồi dưới một cội cây. Lúc ấy, bọn đàn ông đều vào núi săn bắn chỉ còn phụ nữ ở nhà. Đức Phật tỏa ánh từ quang chiếu khắp đất trời, cây đá trong núi đều biến thành sắc vàng. Lớn nhỏ ai thấy cũng đều kinh ngạc hoan hỉ, cho Phật là vị thần linh nên kéo đến lễ bái, cúng dường chiếu ngồi.

Đức Phật nhân đó mới thuyết pháp về tội báo sát sinh, phước đức từ bi, ân ái tạm hợp lại tan cho các phụ nữ nghe. Nghe xong họ đều hoan hỉ, ra trước bạch Phật:

– Sơn nhân chúng con sát sinh ăn thịt để sống. Nay muốn dâng cúng Ngài một ít, xin hãy nhận lấy.

Đức Phật bảo với các phụ nữ:

– Giáo pháp của chư Phật không ăn thịt chúng sinh. Ta đã thọ trai rồi mới đến đây, không cần phải dọn ra nữa.

Đức Phật nhân đây lại dạy:

– Người sống ở đời món ăn rất nhiều. Sao không ăn những thứ có ích, mà lại giết mạng của chúng sinh để nuôi sống cho mình? Khi chết sẽ đọa ác đạo, chỉ hại mà không lợi ích, làm người nên ăn ngũ cốc, thương yêu các loài chúng sinh. Không ai là không tham sống sợ chết. Giết chúng sinh nuôi sống mình tội lỗi rất nặng. Còn ai từ bi bất sát đời đời sẽ được an vui.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Hành từ bi bất sát

Thường biết thu nhiếp thân

Đây là chỗ bất tử

An lạc không tai họa.

Bất sát hành từ bi

Thận trọng ý và lời

Đây là chỗ bất tử

An lạc không tai họa.

Tuân theo đạo vô vi

Không tổn hại chúng sinh

Tâm không bị phiền não

Tương xứng trời Phạm Thiên.

Thường dùng đức từ bi

Thanh tịnh như phật dạy

Biết đủ và biết dừng

Sẽ vượt qua sinh tử.

Đức Phật nói kệ xong, những người đàn ông đi săn cũng vừa về đến. Các phụ nữ nghe giảng kinh nên không kịp đón chồng. Các ông này kinh ngạc trước việc bất thường, bỏ thú săn xuống chạy về xem có biến cố gì không. Đến nơi chỉ thấy các bà vợ mình đang chắp tay nghe Phật giảng dạy, họ liền nổi giận lớn tiếng mắng nhiếc, định hủy nhục Phật. Các bà vợ vội nói với chồng mình:

– Đây là thần nhân, các ông đừng sinh ác ý.

Mọi người nghe nói ăn năn hối cải, quỳ xuống đảnh lễ Phật. Phật vì các ông mà giảng nói lại công đức của việc không sát sinh và tội báo của việc giết hại. Người đứng đầu gia tộc tỉnh ngộ liền quỳ xuống bạch Phật:

– Chúng con sinh trưởng nơi núi sâu, lấy việc săn bắn làm kế sinh nhai. Tội lỗi vì thế chồng chất rất nhiều. Xin Ngài dạy cho cách nào để tránh khỏi tai ương.

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Thực hành lòng nhân từ

Bác ái cứu chúng sinh

Có mười một lợi ích

Phước thường theo bên thân.

Một, khi ngủ an ổn

Hai, lúc thức yên vui

Ba, không mơ ác mộng

Bốn, chư thiên hộ trì.

Năm, mọi người kính mến

Sáu, không bị gia hại

Bảy, không gặp đao binh

Tám, không gặp nạn nước.

Chín, không gặp nạn lửa

Mười, sống được phước lợi

Sau hết, chết sinh thiên

Đó chính là mười một.

Phật nói kệ xong, một trăm hai mươi hai người nam nữ lớn nhỏ đều hoan hỉ tin nhận, vâng giữ năm giới. Đức Phật nói với vua Bình-sa cho họ ruộng đất và hạt giống để làm ăn sinh sống. Từ đó, đạo từ bi phổ biến, trong nước bình yên.

2 – PHẬT ĐỘ VUA HÒA MẶC TRỞ VỀ CHÁNH PHÁP

Thuở xưa có một nước lớn ở vùng biên cảnh Ấn Độ. Vua nước ấy tên là Hòa Mặc. Nhân dân trong nước chưa từng được pháp hóa vi diệu của Tam bảo, chỉ biết thờ ngoại đạo Phạm Chí, nghe theo lời dụ hoặc của họ mà thường làm những việc tà ác, sát sinh tế tự quỷ thần.

Lúc ấy mẹ vua lâm trọng bênh nằm liệt trên giường. Vua đã cho vời rất nhiều danh y điều trị cho đến cầu phù chú nơi các đồng cốt, song trải qua nhiều tháng nhiều năm mà bệnh tình bà vẫn không thuyên giảm. Do đó, vua lại cho mời hai trăm vị Bà-la-môn trong nước vào cung cúng dường, rồi hỏi:

– Thái hậu bệnh nặng đã lâu, không biết vì nguyên nhân gì? Các vị là những bậc trí tuệ, thông hiểu tướng pháp và thiên văn địa lý, vậy có thấy gì bất ổn xin nói cho trẫm biết.

Các Bà-la-môn trả lời:

– Bệnh của Thái hậu là do tinh tú sai loạn, âm dương bất hòa mà thôi.

Vua hỏi:

– Làm cách nào để giải trừ được?

Các Bà-la-môn thưa:

– Nên bày lễ cầu đảo núi non, nhật nguyệt, tinh tú nơi khoảng đất trống sạch sẽ ngoài thành, và giết một trăm súc vật đủ loại, với một đứa bé để cúng tế trời. Rồi vua tự mình dẫn mẹ đến chỗ đó lạy xin khỏi bệnh sống lâu, thì sau đó bệnh sẽ lành.

Vua nghe nói bèn chuẩn bị đúng như lời dặn. Vua cho lùa đứa bé và trăm loài voi ngựa bò dê từ cửa thành phía đông đi ra chỗ tế tự giết để tế trời. Dọc đường tiếng than khóc, kêu la vang động đất trời!

Đức Thế Tôn đại từ cứu độ tất cả chúng sinh, thương cho vua Hòa Mặc ngu si quá đáng. Sao lại vì muốn cứu một người mà làm ác giết mạng chúng sinh? Cho nên đức Phật và chúng đệ tử đi qua nước đó. Đức Phật gặp vua và các ông Bà-la-môn nơi cửa thành phía đông đang lùa bầy súc vật và một đứa trẻ than khóc đi đến. Vua và mọi người từ xa trông thấy Phật uy nghi rực rỡ, hào quang tỏa sáng, như mặt trời mới mọc, như trăng sáng đêm rằm, đều khởi tâm kính mộ. Đứa bé và súc vật cũng khởi tâm mong được cứu thoát.

Vua liền xuống xe đến trước Phật đảnh lễ rồi quỳ thẳng chắp tay chào hỏi đức Thế Tôn. Phật mời vua ngồi, rồi hỏi:

– Ông định đi đâu?

Vua vòng tay đáp:

– Thái hậu của nước lâm bệnh đã lâu, con cho mời lương y khắp nơi điều trị, cho đến mời đồng cốt chú thuật cũng không thuyên giảm. Nay con mang người và súc vật để tế cúng chư thiên, kỳ đảo tinh tú núi sông cầu cho mẹ con được hết bệnh, sống khỏe mạnh.

Đức Phật bảo:

– Xin đại vương khéo lắng nghe lời này: Muốn được lúa ăn phải lo cày cấy, muốn được giàu có phải hành bố thí, muốn được sống thọ phải hành từ bi, muốn được trí tuệ phải chuyên học hỏi. Bốn việc này, tùy mình gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Kẻ giàu sang thì không tham bữa ăn của nhà nghèo hèn. Chư thiên kia ở trong cung điện thất bảo, muốn ăn muốn mặc tự nhiên như ý, lẽ đâu lại bỏ vị ngon cam lộ mà dùng đồ máu thịt tanh hôi? Sự tế tự này là do lòng dâm loạn cho tà giáo là chánh đạo. Giết mạng sống mà cầu sống, thật trái với đạo lý quá xa! Giết bao nhiêu mạng để cứu một mạng thì làm sao có chuyện đó.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Dầu người sống trăm năm

Siêng phụng sự quỷ thần

Cúng tế bằng voi ngựa

Chẳng bằng một việc từ.

Lúc đức Phật nói kệ hào quang rực chiếu khắp đất trời, chúng sinh trong tam đồ bát nạn đều hoan hỉ, được an ổn lợi ích. Vua Hòa Mặc nghe được diệu pháp thấy đạo, lại thấy được hào quang nên vô cùng hoan hỉ. Thái hậu nghe pháp xong, tinh thần phấn chấn vui vẻ, bệnh hoạn dứt hết. Còn hai trăm vị Bà-la-môn thấy hào quang, lại nghe kệ dạy nên vô cùng hổ thẹn, ăn năn chừa đổi, xin làm đệ tử Phật. Đức Thế Tôn hứa khả, cho họ xuất gia làm Sa-môn.

Vua và đại thần thỉnh Phật lưu lại nước đó một tháng để cúng dường, và đem chánh pháp ra trị nước. Nhờ đó nước nhà ngày càng hưng thạnh.

PHẨM THỨ CHÍN

NGÔN NGỮ

BA NGƯỜI TRẢ QUẢ VÌ MẮNG NHIẾC BÀ LÃO NHIỀU KIẾP VỀ TRƯỚC

Thuở xưa, vùa Phất-gia-sa, sau khi xuất gia vào thành La-duyệt-kỳ khất thực, ngang qua cổng bị một con bò mẹ mới sinh con húc chết. Người chủ bò sợ quá liền bán nó cho một người khác. Người chủ mới lúc dẫn bò đi uống nước lại cũng bị nó từ sau húc chết! Con ông ta thấy vậy nổi giận bắt bò làm thịt, đem ra chợ bán. Có một bác nông dân mua lấy đầu bò gánh về. Còn cách nhà hơn dặm đường, bác ta mới treo đầu bò trên một cành cây rồi ngồi nghỉ dưới gốc. Không ngờ, mới đó dây đứt, đầu bò rơi xuống, sừng cắm đúng vào người khiến bác ta chết ngay tại chỗ. Trong một ngày mà con bò đó đã giết chết ba mạng người. Vua Bình-sa nghe tin rất lấy làm lạ, liền cùng quần thần đến chỗ Phật để thưa hỏi. Đến nơi, vua làm lễ Phật xong ngồi xuống chắp tay hỏi:

– Bạch đức Thế Tôn, thật là lạ lùng! Có một con bò mẹ đã giết ba mạng người. Vì có chuyện này nên con đến đây hỏi ý kiến Phật.

Đức Phật bảo với vua Bình-sa:

– Tội báo đều có nguyên nhân, không phải ngẫu nhiên ngày nay mới có.

Vua thưa:

– Xin đức Thế Tôn nói rõ nguyên nhân.

Đức Phật kể:

Thuở xưa có ba người thương gia đến nước khác buôn bán, ở trọ nhà một bà lão đơn chiếc. Đến kỳ trả tiền thuê nhà, vì thấy bà lão cô độc nên ba người định ăn quỵt không trả. Thừa lúc bà lão đi vắng, cả ba lén bỏ đi. Bà lão trở về không thấy ai cả, liền hỏi hàng xóm mới hay họ đã bỏ đi. Bà lão nổi giận tức tốc đuổi theo. Một hồi lâu sau, chạy đến nhọc mệt bơ phờ bà mới bắt kịp họ. Song khi ba ông khách nghe bà lão đòi tiền lại đồng thanh nói ngang, bảo rằng mình đã trả rồi, sao lại đòi nữa. Kế đó họ còn mắng cho bà lão một trận. Bà lão thấy mình sức yếu thế cô không làm sao được, nên đành chịu mất tiền, ngậm hờn thề trước ba thương khách rằng:

– Tôi nghèo khổ như vậy, sao các ông lại nhẫn tâm lường gạt? Tôi nguyện đời sau sinh ra chỗ nào hễ gặp các ông quyết giết không tha! Chừng nào giết được lòng tôi mới hả, dầu các ông đắc đạo cũng không bỏ qua!

Đức Phật nói với vua Bình-sa:

– Bà lão thuở đó nay chính là con bò mẹ. Ba vị thương khách chính là Phất-gia-sa v.v… ngày nay bị bò húc chết.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Lời ác hay mắng chửi

Kiêu mạn, khinh miệt người

Ai làm hạnh nghiệp này

Thù oán sẽ theo đây.

Lời ôn tồn hòa thuận

Tôn kính chẳng khinh ai

Mở trói buộc, an nhẫn

Thù oán tự hết ngay.

Phàm người sống ở đời

Miệng lưỡi chính gươm đao

Chửi rủa mắng nhiếc nhau

Là cầm đao tự hại.

Nghe Phật nói xong, vua Bình-sa và quần thần đều gìn giữ lời nói nghiêm túc cẩn thận, nguyện làm việc lành rồi lễ Phật ra về.

PHẨM THỨ MƯỜI

SONG YẾU

1 – TÂM TRẠNG HAI ANH LÁI BUÔN TRÁI NHAU

Thuở xưa, vua nước Xá-vệ là Ba-tư-nặc đến thăm đức Phật. Vua đến nơi liền xuống xe, tháo kiếm, cởi giày rồi chắp tay đi vào quỳ xuống đảnh lễ, bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, ngày mai con xin nguyện cúng dường Phật và Tăng chúng nơi ngã tư đường để cho mọi người trong nước đều biết Phật là đấng chí tôn, xa lìa tà ma ngoại đạo, gìn giữ ngũ giới cho quốc thái dân an.

Đức Phật nói:

– Lành thay! Phàm người làm vua phải lãnh đạo nhân dân một cách sáng suốt, hướng dẫn họ phụng hành đạo đức để được hưởng phước đời sau.

Vua thưa:

– Bạch đức Thế Tôn! Con xin trở về để lo việc cúng dường.

Vua trở về tự tay lo sắp đặt cơm nước, rồi đích thân đón Phật và Tăng chúng đến ngã tư có thiết trai. Phật đến ngồi vào chỗ, vua lại tự mình múc nước rửa tay cho Phật. Phật thọ trai xong, thuyết pháp cho vua và mọi người. Người đến dự đông vô số, trong số đó có hai thượng nhân, một người nghĩ: “Phật như đế vương, đệ tử như trung thần. Phật thuyết giảng pháp, đệ tử tụng đọc truyền bá. Vua Ba-tư-nặc thật là sáng suốt”. Nhân đây vị ấy biết Phật là bậc đáng tôn kính, sinh lòng kính ngưỡng, phụng trì giáo pháp. Còn người kia lại nghĩ: “Vua Ba-tư-nặc ngu thật! Mình đã là vua còn cần gì nữa! Phật thật như bò, đệ tử như xe. Bò kéo xe chạy đông tây nam bắc. Phật có đạo hạnh gì mà ta phải kính tin theo!”.

Sau đó hai người ra đi. Đi được khoảng ba mươi dặm đường, họ ghé lại một nhà nghỉ qua đêm. Hai người mua rượu cùng nhau uống và bàn luận chuyện đã thấy ban sáng. Người có thiện niệm được Tứ Thiên Vương ủng hộ. Còn người ác niệm bị quỷ thần địa ngục khiến cho rượu uống vào bụng nóng như thiêu. Vì vậy anh ta bỏ ra ngoài hóng mát. Không ngờ vì say loạng choạng anh té nằm hôn mê trên đường. Sáng sớm có đoàn xe buôn năm trăm chiếc đi ngang cán chết anh ta. Người bạn sáng ra đi tìm thì thấy anh đã chết rồi, rất bối rối suy nghĩ: “Nếu mình về nước sẽ bị nghi là giết bạn lấy của”.

Do đó anh mới bỏ đi sang nước khác. Vua nước này vừa băng hà mà không có thái tử nối ngôi. Trong sấm thư nói: “Sẽ có một người thân phận thấp kém ở nước khác lên làm vua. Vua cũ có một con thần mã, nếu gặp người này nó sẽ quỳ xuống”.

Các quan theo lời, thắng yên cương, đeo quốc ấn trên mình thần mã rồi dẫn đi khắp nơi tìm người kế vị. Người xem thần mã rất đông, cũng vừa gặp lúc anh này đi đến. Quan thái sử trông thấy nói:

– Người này có mây vàng che phủ chính là khí tượng làm vua.

Thần mã trông thấy liền đến quỳ xuống liếm chân vị thượng khách. Quần thần mừng rỡ, liền rước anh về cung tôn lên làm vua.

Bấy giờ vị vua mới này coi sóc tình hình trong nước và tự suy nghĩ: “Ta không có làm một việc lành nào cả, sao lại được hưởng phước này? Chắc đây là nhờ ân đức của Phật”.

Do đó, vua bèn cùng quần thần hướng về nước Xá-vệ, từ xa đảnh lễ bạch rằng:

– Con là người hạ tiện thiếu đức, nhờ từ ân Thế Tôn mới được làm vua. Ngày mai xin đức Thế Tôn và các vị A-la-hán thuận theo ý nguyện của con đến đây thọ trai.

Đức Phật ở xa liền biết, bảo A-nan dặn các vị Tỳ-kheo ngày mai vua nước kia có lời cung thỉnh, tất cả hãy sử dụng thần thông đến nước đó cho vua và nhân dân hoan hỉ.

Hôm sau, Phật và đệ tử dùng thần túc đến nước đó, theo thứ lớp mà ngồi trang nghiêm như pháp. Thọ trai, rửa tay xong, đức Phật thuyết pháp cho vua và mọi người nghe. Vua hỏi:

– Con vốn là người tiện dân, không có phước đức, vì nhân duyên gì được như thế này?

Đức Phật đáp:

– Lúc trước vua Ba-tư-nặc cúng dường Phật nơi ngã tư đường. Vua trông thấy trong lòng suy nghĩ: “Phật như quốc vương, đệ tử như trung thần”. Nhờ vua gieo hạt giống lành này mà ngày nay gặt lấy quả báo tốt đẹp. Còn bạn của vua ngày trước vì cho rằng: “Phật như bò, đệ tử như xe”. Gieo hạt giống xấu ác nên gặp tai nạn xe cán và nay chịu quả báo bị xe lửa nghiền nát trong chốn địa ngục. Ngôi vua không phải dùng sức mạnh mà đoạt được. Làm thiện được phước, làm ác gặt họa. Phước hay họa là do mình gây tạo mà chẳng phải trời rồng, quỷ thần ban cho hay gây ra.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Tâm là gốc muôn pháp

Tâm đứng đầu sai sử

Trong tâm khởi niệm ác

Nói ác và làm ác

Thì tội khổ theo ta

Như xe lăn theo vết.

Tâm là gốc muôn pháp

Tâm đứng đầu sai sử

Trong tâm khởi niệm thiện

Nói thiện và làm thiện

Thì phước lạc theo ta

Như bóng đeo theo hình.

Phật nói kệ xong, vua và vô số thần dân đều vô cùng hoan hỉ, chứng được Pháp nhãn.

2 – LƯU LY ĐOẠT NGÔI VUA CỦA CHA VÀ GIẾT ANH

Thuở xưa, trưởng giả Tu-đạt mua miếng vườn của thái tử Kỳ-đà rồi cùng nhau xây tinh xá Kỳ Hoàn cúng dường đức Thế Tôn. Mỗi người đều thỉnh Phật và chư Tăng cúng dường trong một tháng. Nhờ nghe đức Phật thuyết pháp nên hai vị đều thấy được đạo.

Thái tử Kỳ-đà hoan hỉ trở về đông cung, hết lời tán thán đức Phật với mọi người. Em trai của Kỳ-đà là Lưu Ly thường ở bên vua lo việc triều chính. Lúc ấy, vua cùng với cận thần và các phu nhân đến chỗ Phật đảnh lễ nghe kinh. Lưu Ly ở lại lo việc bảo vệ cung điện. Các nịnh thần như bọn A-tát-đà v.v… có mưu gian thưa với Lưu Ly rằng:

– Xin ngài hãy đeo thử đai ấn của đại vương, ngồi lên ngai vàng xem có giống vua không?

Lưu Ly nghe lời mặc hoàng bào lên ngai vàng ngồi.  Bọn nịnh thần lạy
mừng thưa:

– Ngài thật như vị đại vương ngàn năm mới gặp được. Ngài nên thuận theo nguyện vọng của lê dân, há để đông cung thái tử Kỳ-đà chiếm chỗ này sao?
Ngai vàng này không lẽ đã lên rồi mà
lại xuống?

 Lưu Ly nghe lời liền mang giáp binh, rút kiếm đến bao vây tinh xá Kỳ Hoàn để đuổi vua không cho về cung. Quân Lưu Ly đánh nhau với cận thần của vua ở Kỳ Hoàn giết hơn năm trăm người. Vua và phu nhân chạy lánh nạn suốt ngày đêm đến nước Xá-di. Giữa đường vì đói khát vua ăn rau rừng trúng độc, bụng trương lên rồi chết. Lúc ấy Lưu Ly lên nắm quyền, cầm gươm vào đông cung giết chết thái tử Kỳ-đà, anh mình. Kỳ-đà vì hiểu lẽ vô thường nên không chút lo sợ vẻ mặt an nhiên chẳng đổi, an tâm mỉm cười chịu chết. Khi lâm chung, Kỳ-đà nghe có tiếng nhạc từ hư không đến đón rước thần thức.

Lúc ấy đức Phật ở tinh xá Kỳ Hoàn biết được liền nói kệ:

Tạo vui đời sau vui

Làm thiện hai đời vua

Người ấy thuần hoan hỷ

Thấy phước tâm an vui.

Nay mừng đời sau mừng

Làm thiện hai đời mừng

Đây là tự giúp mình

Hưởng phước nên mừng vui.

Sau đó, vua Lưu Ly kéo quân sang đánh nước Xá-di, sát hại những người họ Thích và những bậc thấy đạo, tàn bạo vô nhân, tạo đủ năm tội nghịch. Đức Phật dự ký Lưu Ly vì bất hiếu bất trung, tội nghiệp sâu nặng, bảy ngày sau sẽ bị lửa địa ngục thiêu chết. Quan thái sử cũng bói quẻ đúng như vậy.

Lưu Ly nghe tin hết sức lo sợ cho thuyền ra giữa sông, nghĩ rằng: “Ta nay sống giữa nước, lửa làm sao đến được?”

Đúng trưa ngày thứ bảy, tự nhiên lửa từ dưới nước bốc lên, đốt chìm thuyền, Lưu Ly bị chết cháy, thi thể chìm dưới nước.

Lúc ấy, đức Phật nói kệ rằng:

Tạo lo đời sau lo

Làm ác hai đời lo

Kẻ ấy toàn lo sợ

Thấy tội tâm bất an.

Nay hối đời sau hối

Làm ác hai đời hối

Đây tự chuốc tai ương

Chịu tội đầy khổ não.

Phật nói kệ xong, liền bảo các Tỳ-kheo:

– Thái tử Kỳ-đà không tham vinh hoa địa vị, chết vẫn giữ đạo nên được sinh lên cõi trời sống tự tại an lạc. Còn vua Lưu Ly cuồng ngu buông lung tình ý, chết đọa địa ngục chịu biết bao đau khổ. Tất cả người đời không luận giàu sang hay nghèo hèn đều theo luật vô thường không thể trường tồn. Cho nên bậc trượng phu thà hy sinh mạng sống để bảo toàn của báu tinh thần, và của báu hành vi.

Nghe Phật dạy xong, ai ai cũng
tin nhận.

3 – PHẬT ĐỘ BẢY MƯƠI BÀ LA MÔN

Thuở xưa, sau núi Kỳ-xà-quật có hơn bảy mươi gia đình Bà-la-môn đủ phước duyên đáng độ. Đức Phật đến làng đó hiển bảy thần thông để giáo hóa. Dân làng trông thấy hào quang rực rỡ của Phật ai cũng sinh lòng kính phục. Đức Phật ngồi dưới một cội cây, hỏi các Phạm Chí:

– Các ông ở trong núi này được bao nhiêu đời rồi? Làm nghề nghiệp gì
để sống?

Đáp rằng:

– Chúng tôi ở đây đã hơn ba mươi đời, lấy việc canh tác, chăn nuôi làm nghề sinh sống.

Lại hỏi:

– Các ông tu hạnh gì để cầu thoát ly sinh tử?

Đáp rằng:

– Thờ mặt trời, mặt trăng, lửa, nước, tùy thời tế tự. Nếu có người chết thì người trong làng lớn nhỏ tụ họp lại cầu nguyện cho thần hồn được sinh lên cõi trời Phạm Thiên, thoát ly sinh tử.

Đức Phật nói với các Bà-la-môn:

– Làm ruộng, chăn nuôi, tế tự mặt trời, mặt trăng, lửa, nước, cầu nguyện sinh thiên không phải là pháp trường tồn xa lìa sinh tử. Phước lớn nhất không nơi nào hơn cõi trời thứ hai mươi tám mà nếu không có trí tuệ tu đạo vẫn bị đọa vào ba ác đạo. Chỉ có xuất gia tu hạnh thanh tịnh, thân đạt tịch diệt mới được Niết-bàn.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Chân thật cho là ngụy

Ngoa ngụy nghĩ là chân

Đó chính là tà kiến

Không được lợi chân thật.

Chân thật biết là chân

Ngoa ngụy rõ là ngụy

Đây gọi là chánh kiến

Quyết được lợi chân thật.

Thế gian ai cũng chết

Ba cõi vốn không an

Chư thiên tuy vui sướng

Phước hết, mạng không còn.

Hãy quán sát thế gian

Đã sinh thì phải tử

Muốn thoát ly sanh tử

Nên thực hành đạo chân.

Bảy mươi vị Bà-la-môn nghe Phật giảng xong, hoan hỉ tỏ ngộ, xin làm
Sa-môn.

Đức Phật bảo:

– Lành thay! Hãy lại đây các Tỳ-kheo.

Các vị ấy râu tóc liền tự rụng, thành tướng Tỳ-kheo, Phật cùng với các vị ấy trở về tinh xá. Đi được nửa đường, các vị tân Tỳ-kheo bỗng nhớ vợ con, muốn trở về nhà. Lại nữa, lúc đó trời trở cơn mưa, càng thêm buồn thảm. Đức Phật biết ý, liền hóa ra vài mươi căn nhà bên đường, rồi cùng chúng Tỳ-kheo vào trú mưa. Lúc ấy mái nhà bị dột, nước mưa theo đó chảy vào. Nhân dây đức Phật nói kệ:

Như nhà lợp không kín

Nước mưa rơi lọt vào

Ý lơi lỏng không tu

Tham dục liền xen khởi.

Như nhà lợp kín đáo

Nước mưa không lọt vào

Ý miên mật siêng tu

Tham dục không xen khởi.

Bảy mươi vị Tỳ-kheo nghe Phật nói kệ xong, cố gắng, tự sách tấn, song lòng vẫn còn âm thầm lưu luyến. Mưa dứt, mọi người lại lên đường. Đi một đoạn, đức Phật gặp một tờ giấy cũ bèn bảo các Tỳ-kheo lượm lên, rồi hỏi:

– Đây là giấy gì?

– Thưa đó là giấy gói hương, nay tuy đã quăng bỏ song mùi thơm vẫn còn – Các Tỳ-kheo đáp.

Đi thêm đoạn nữa, gặp một sợi dây, Phật cũng bảo các Tỳ-kheo nhặt lấy. Phật lại hỏi rằng:

– Đây là dây gì?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Sợi dây này tanh hôi, chính là dây xâu cá.

Đức Phật bèn dạy:

– Mọi vật bản chất vốn thanh tịnh, song do nhân duyên mà có tội phước khác nhau. Thân cận người hiền minh thì đạo đức cao cả, kết giao kẻ ngu ám thì tội nghiệp đến bên. Ví như tờ giấy và sợi dây kia, gần hương thì thơm, gần cá thì tanh, gần gũi dần dần huân tập trở thành bản tánh mà không tự biết.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Kẻ xấu ô nhiễm người

Như gần vật hôi dơ

Mê dần, quen nết xấu

Thành ác mà chẳng hay.

Hiền nhân ảnh hưởng người

Như gần vật xông hương

Trí tăng, quen tánh thiện

Thành hạnh lành sạch thơm.

Bảy mươi vị Tỳ-kheo một lần nữa được nghe Phật nói kệ khai thị, biết rõ dục là rừng nhơ bẩn, vợ con nào khác gông xiềng, đều phát khởi lòng tin kiên cố. Về đến tinh xá, mọi người nhiếp ý tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.

PHẨM THỨ MƯỜI MỘT

PHÓNG DẬT

 PHẬT ĐỘ MỘT VỊ SA MÔN THAM CỦA BỎ ĐẠO

Thuở Phật còn tại thế, có năm trăm vị thương khách từ biển mang về nước rất nhiều đồ thất bảo. Chẳng may khi đi ngang một khu núi rừng bị quỷ thần làm mê hoặc lạc mất lối ra, sức cùng lực kiệt lại thêm đói khát nên tất cả đều mất mạng. Châu báu của cải vì thế bỏ lại rải rác giữa núi rừng. Lúc ấy, có một vị Sa-môn đang tu trong núi, thấy chuyện như vậy liền khởi niệm: “Ta cực khổ tu hành đã bảy năm mà không đắc đạo, lại chịu nghèo khổ không có chút gì nuôi sống. Nay gặp những vật báu vô chủ này, ta hãy lấy đem về gây dựng nhà cửa cơ nghiệp”. Nghĩ vậy xong, Sa-môn bèn xuống núi gom lấy của báu vào một chỗ rồi ra khỏi núi định tìm gọi anh em phụ mang về nhà. Đức Phật biết vị Tỳ-kheo này có thể độ được, bèn hóa ra một vị Tỳ-kheo Ni, cạo đầu đắp y mà lại trang điểm phấn son, vẽ mắt kẻ mày, đeo vàng ngọc đầy người. Vị Ni này đi vào núi, giữa đường gặp vị Sa-môn từ núi đi ra liền cúi đầu làm lễ hỏi thăm. Vị Sa-môn thấy cô Ni mà trang sức liền la rầy:

– Pháp tắc cô Ni làm như vậy có được chăng? Đã cạo đầu đắp y sao còn trang điểm, đeo đồ trang sức?

Tỳ-kheo Ni trả lời:

– Pháp tắc Sa-môn làm như vậy có được không? Đã cát ái từ thân, học đạo nơi chốn rừng sâu sao lại còn lấy của phi pháp? Tham dục quên đạo, lung lòng phóng dật, không xét lẽ vô thường. Cuộc sống trên đời vốn tạm bợ, còn tội báo lại đeo đẳng kéo dài.

Bấy giờ, vị Tỳ-kheo Ni nói kệ:

Tỳ-kheo cẩn thận giới

Phóng dật lỗi lầm nhiều

Đổi thay nhỏ đến lớn

Ác thành bị lửa thiêu.

Giữ giới phước an vui

Phạm giới tâm lo sợ

Dứt được lậu ba cõi

Người này gần Niết-bàn.

Tỳ-kheo Ni nói kệ xong, liền hiện lại thân Phật tướng hảo quang minh. Sa-môn trông thấy kinh sợ, vội cúi đầu đảnh lễ, phát lồ sám hối:

– Con vì ngu si lầm lạc mà vi phạm chánh giáo. Nếu không được đức Thế Tôn từ bi khai thị, cứ dấn sâu mãi vào tội lỗi, không biết sẽ ra sao.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Nếu trước mà phóng dật

Sau biết tự cấm ngăn

Đó nhờ sức niệm định

Tỏa sáng khắp thế gian.

Trước lầm gây nên ác

Sau cải đổi làm lành

Đó nhờ sức niệm thiện

Tỏa sáng khắp thế gian.

Tuổi trẻ biết xuất gia

Siêng tu pháp Phật đà

Như trăng khỏi mây mù

Chiếu sáng khắp thế gian.

Người lúc trước làm ác

Sau ngưng không tái phạm

Như trăng khỏi mây mù

Chiếu sáng khắp thế gian.

Bấy giờ Tỳ-kheo nghe xong, dứt bỏ mọi kết sử, không còn niệm tham, đảnh lễ dưới chân Phật. Rồi vị ấy trở vào núi, ngồi dưới một gốc cây nỗ lực tu quán niệm hơi thở, không bao lâu chứng quả A-la-hán.

PHẨM THỨ MƯỜI HAI

TÂM Ý

 PHẬT DẠY SÁU GIÁC QUAN CHẠY THEO SÁU DỤC ĐỀU DO TÂM Ý

Thuở đức Phật còn tại thế, có một vị đạo nhân tu dưới một cội cây bên bờ sông, suốt mươi hai năm trường mà tham tướng vẫn không dứt được. Tâm ông luôn vọng tưởng nhớ nghĩ lục dục: Mắt đối sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp. Thân tuy yên mà tâm lang thang chưa từng tĩnh lặng. Vì thế, dầu dụng công suốt mười hai năm mà vị ấy vẫn không đắc đạo.

Đức Phật biết ông có thể độ được nên hóa ra một vị Sa-môn đi đến chỗ đó, ngồi dưới cội cây. Một lát sau trăng mọc, có một con quy bò từ dưới sông lên. Lại có con rái cá đang đói đi kiếm ăn, bỗng gặp con quy liền định ăn thịt. Con quy vội rụt đầu đuôi và bốn chân vào mai, vì vậy rái cá không làm gì được, đành bỏ đi. Sau đó quy lại thò đầu đuôi tứ chi ra đi tiếp. Vị đạo nhân trông thấy nói với hóa Sa-môn:

– Con quy có áo giáp bảo vệ thân mạng nên rái cá không làm gì được.

Hóa Sa-môn đáp:

– Tôi nghĩ rằng người đời không bằng con quy này. Họ không biết lẽ vô thường buông lung lục tình, ngoại ma do đó có cơ hội xâm nhập. Thân hoại thần đi, sinh tử mênh mang, luân chuyển trong năm nẻo, chịu khổnão vô lượng đều do ý mà ra. Vì vậy nên tự sách tấn cầu chỗ an ổn diệt độ.

Bấy giờ vị hóa Sa-môn liền nói kệ:

Thân này chẳng bền lâu

Rồi phải về đất sâu

Hình rã, thần đi khỏi

Sống tạm, chớ tham cầu.

Chỗ tâm ý suy lường

Rắc rối khó tỏ tưởng

Nghĩ tưởng điều tà ác

Là tự chuốc tai ương.

Ý mình tự gây tạo

Chẳng phải mẹ hay cha

Nên gắng theo nẻo chánh

Chớ quay lại đường tà.

Sáu căn nhiếp như quy

Ý giữ tự thành trì

Trí tuệ dẹp ma chướng

Khi thắng hết hiểm nguy.

Vị Tỳ-kheo nghe kệ xong, tham tâm dứt sạch, vọng tưởng lặng trong, liền đắc quả. A-la-hán. Vị tân A-la-hán này liền biết hóa Sa-môn chính là Phật nên sửa y, cung kính đảnh lễ. Trời rồng quỷ thần ai cũng hoan hỉ.

PHẨM THỨ MƯỜI BA

HOA HƯƠNG

PHẬT ĐỘ NĂM TRĂM CÔ GÁI GIÒNG BÀ LA MÔN

Thuở xưa, đức Phật trú tại nước Xá-vệ. Giữa vùng biển phía đông nam nước này có một hòn đảo, trên đảo có một cây nở hoa thơm ngát, trong sạch.

Lúc ấy, có năm trăm cô gái dòng Bà-la-môn theo ngoại đạo tu hành rất tinh tấn, song không biết gì đến Phật pháp. Họ bàn với nhau:

– Chúng ta sinh ra mang thân phụ nữ, từ trẻ đến già bị ba điều ràng buộc không thể tự do. Lại nữa mạng sống ngắn ngủi, thân như huyễn hóa rồi sẽ tử vong. Chi bằng chúng ta hãy cùng nhau đến đảo hoa thơm, hái hoa thờ cúng, tinh tấn trì trai, quy y Phạm Thiên, nguyện được sinh lên cõi trời đó sống lâu bất tử, lại được tự tại không có ràng buộc, lìa các tội nghiệp không còn ưu hoạn.

Bàn xong, các cô liền sửa soạn hành trang đến hòn đảo đó, hái hoa thơm thờ cúng Phạm Thiên, nhất tâm trì trai nguyện quy y với thần minh.

Bấy giờ, đức Thế Tôn quán sát thấy các cô tuy giữ trai giới theo thế tục mà tâm lại tinh tấn có thể độ được. Cho nên Ngài cùng với đại chúng đệ tử, Bồ-tát, trời, rồng, quỷ thần dùng thần thông bay đến đảo ngồi dưới cội cây. Các cô thấy vậy vô cùng hoan hỉ, cho là Phạm Thiên cảm được lòng thành cầu nguyện của mình mà giáng hạ. Lúc ấy có một thần nhân nói với các cô:

– Đây không phải là Phạm Thiên mà là đấng Tam giới tôn hiệu là Phật, cứu độ chúng sinh vô số.

Các cô nghe vậy liền đến trước Phật đảnh lễ, rồi bạch rằng:

– Chúng con nhiều phiền não nay phải mang thân nữ, vì mong thoát khỏi sự ràng buộc kềm thúc, nên nguyện sinh lên cõi trời Phạm Thiên.

Đức Phật nói:

– Các cô vì muốn được thiện lợi nên phát nguyện như vậy. Trên đời có hai việc mà quả báo rõ ràng là làm thiện được phước, làm ác chịu họa. Thế gian đau khổ, chư thiên vui sướng. Hữu vi phiền não, vô vi tịch tĩnh. Ai có thể chọn lựa lấy điều lợi ích chân thật là sáng suốt. Lành thay, các cô lại có tâm ý sáng suốt!

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Ai biết rõ cõi đất

Khỏi địa ngục, sinh thiên

Ai giảng nói Pháp Cú

Như chọn hoa tươi đẹp.

Hữu học rõ cõi đất

Khỏi địa ngục, sinh thiên

Và khéo nói Pháp Cú

Hái được hoa công đức.

Biết thế gian mong manh

Pháp huyễn hóa tạm có

Bẻ gãy bẫy ma dụ

Không còn có tử sinh.

Thấy thân như bọt nước

Pháp tánh vốn huyễn hư

Bẻ gãy bẫy ma dụ

Không còn có tử sinh.

Các cô ấy nghe Phật nói kệ xong, nguyện tu học theo chánh đạo, làm Tỳ-kheo Ni. Đức Phật hứa khả, tóc các cô tự rụng, đầy đủ pháp phục, tư duy lẽ tịch tĩnh chứng quả A-la-hán.

A-nan bạch với Phật rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, các vị này có phước đức gì mà được Thế Tôn đến độ, vừa nghe Phật thuyết pháp liền xuất gia đắc đạo?

Phật bảo A-nan:

– Thời đức Phật Ca-diếp có một ông trưởng giả giàu có vô số. Vợ và hầu thiếp của ông đến số năm trăm. Nhưng tánh ông lại hay ghen, cấm đoán vợ và hầu thiếp ở nhà không cho ra ngoài. Các bà muốn đến lễ Phật, nhưng ông ta không cho phép.

Một hôm, quốc vương cho mời các đại thần vào cung dự tiệc suốt một ngày. Các bà nhân dịp đó mới cùng nhau đến chỗ Phật đảnh lễ rồi ngồi nghe kinh. Các bà đồng phát nguyện:

– Xin cho chúng con đời đời không gặp người ác, sinh ra chỗ nào thường gặp thánh nhân đạo đức. Chúng con nghe rằng đời vị lai có đức Phật hiệu là Thích Ca Văn, xin cho chúng con được gặp, xuất gia học đạo, phụng trì giáo huấn.

Đức Phật nói với A-nan:

– Năm trăm phu nhân lúc ấy là năm trăm vị Tỳ-kheo Ni hiện nay. Do bổn nguyện khẩn thiết nên nay được độ và cũng vì lẽ đó ta đến để giáo hóa họ.

Đức Phật nói xong, không ai là không hoan hỉ.

QUYỂN THỨ HAI

PHẨM THỨ MƯỜI BỐN

 DỤ HOA HƯƠNG

1- PHẬT KHEN SỰ THỌ TRÌ BÁT QUAN TRAI CỦA MẠT LỊ PHU NHÂN

Thuở xưa, đức Phật mới đắc đạo giáo hóa tại thành La-duyệt-kỳ rồi chuyển đến nước Xá-vệ. Vua nước Xá-vệ và quần thần vô cùng tôn kính đức Phật. Lúc đó có một vị đại thương gia tên là Ba-lợi cùng năm trăm thương khách ra biển tìm châu báu. Giữa biển, đoàn thương buôn gặp vị hải thần vốc một vốc nước lên hỏi Ba-lợi:

– Nước biển nhiều hay nước trong vốc tay này nhiều?

Ba-lợi đáp:

– Vốc nước này nhiều. Vì sao? Nước biển tuy nhiều mà vô ích, lúc cần không thể cứu cho người đói khát. Vốc nước này tuy ít mà gặp kẻ khát đem cho họ có thể cứu được mạng sống. Nhờ đó đời đời hưởng phước không thể tính đếm.

Hải thần nghe xong hoan hỉ khen lành thay, rồi cởi xâu chuỗi hương anh làm bằng thất bảo trên thân biếu cho Ba-lợi hộ tống thuyền trở về nước Xá-vệ bình yên vô sự. Về nước, Ba-lợi mang xâu chuỗi hương anh dâng lên vua Ba-tư-nặc, kể rõ đầu đuôi câu chuyện, rồi thưa:

– Xâu chuỗi hương anh này không phải là món đồ trang sức của người bình thường. Nên nay tôi đem dâng lên vua xin hãy nhận cho.

Vua nhận được chuỗi ngọc rất lấy làm kỳ lạ, liền cho gọi các phu nhân ra trình diện, vị nào đẹp nhất sẽ cho xâu chuỗi hương anh này. Tất cả phu nhân đều trang điểm lộng lẫy bước ra, nhưng lại thiếu Mạt-lợi phu nhân. Vua hỏi, mới hay hôm nay là ngày rằm. Mạt-lợi giữ trai giới không trang điểm nên không ra. Vua liền nổi giận cho người bảo:

– Trì trai giới mà dám trái lệnh của vua sao?

Gọi ba lần như vậy, Mạt-lợi phu nhân mới bước ra. Bà không trang điểm chỉ mặc đơn sơ. song đứng giữa mọi người, sắc đẹp và phong cách lại sáng rỡ như mặt trời mặt trăng, gấp bội lúc bình thường. Vua giật mình kính nể hỏi:

– Khanh nhờ công đức gì mà thần sắc rạng rỡ đặc biệt như thế?

Phu nhân thưa:

– Thiếp tự nghĩ mình thiếu phước nên phải chịu mang thân người nữ. Những tâm lý xấu xa, nhỏ nhen chất chứa như núi. Mạng người ngắn ngủi sợ đọa vào tam đồ, nên hằng tháng phụng trì trai giới, cắt ái theo đạo, đời đời hưởng phước.

Vua nghe xong hoan hỉ liền ban cho xâu chuỗi hương anh. Phu nhân từ tạ:

– Thiếp nay trì trai không thích hợp đeo đồ trang sức, xin cho vị khác.

Vua nói:

– Ta vốn có ý tặng chuỗi ngọc này cho người đẹp nhất. Nay khanh đẹp nhất, lại biết trì trai phụng đạo, ý chí cao thượng nên ta tặng cho khanh. Nếu khanh không chịu nhận ta sẽ cất đi.

Phu nhân đáp:

– Xin vua đừng buồn, hãy cùng thiếp đến chỗ Phật dâng chuỗi ngọc này lên cúng dường, để nhận được lời giáo huấn của bậc Thánh sẽ hưởng phước lạc muôn đời.

Vua đồng ý, liền cho thắng xa giá đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi ngồi qua một bên, thưa với Phật rằng:

– Đây là chuỗi ngọc hương anh của hải thần tặng cho Ba-lợi. Ông ấy đem dâng lên con. Sáu muôn phu nhân không ai không thích, nhưng Mạt-lợi phu nhân được tặng lại không nhận, do vì trì trai giới Phật pháp tâm không tham dục. Nay chúng con thành tâm dâng lên đức Thế Tôn, xin hãy thùy từ nạp thọ. Bạch đức Thế Tôn, đệ tử Phật kiên tâm gìn giữ trai giới, tín tâm kiên cố như vậy, có phước đức chăng?

Lúc đó đức Thế Tôn vì lòng thành của vua và phu nhân nên nhận chuỗi ngọc, rồi nói kệ khai thị:

Làm ra nhiều hoa báu

Kết thành tràng đẹp tươi

Tích chứa nhiều hương đức

Mỗi đời hạnh phúc hơn.

Hoa thơm hay cỏ lạ

Không ngược gió xông hương

Người đức hạnh gần đạo

Hương tỏa khắp muôn phương.

Gỗ chiên đàn thơm ngát

Hoa sen xanh ngạt ngào

Tuy rằng hương thơm thật

Sao sánh được giới hương?

Hương hoa chẳng bao nhiêu

Giá trị không thật nhiều

Hương trì giới thù diệu

Đến cõi trời cao siêu!

Giới thành tựu đầy đủ

Hạnh giữ chẳng buông lung

Ý an định giải thoát

Lìa xa hẳn đường ma.

Đức Phật nói kệ xong, lại bảo vua:

– Công đức phước báo của trai giới thật đáng ca ngợi rộng rãi. Dầu cho đem trân báo số nhiều khắp mười sáu nước lớn trong thiên hạ ra bố thí, công đức này so với công đức Mạt-lợi phu nhân một ngày một đêm trì giới trong Phật pháp không bằng trong muôn một, như hạt đậu sánh với núi Tu-di, trì trai tích phước tu tuệ có thể đến Niết-bàn.

Vua, phu nhân và quần thần nghe xong ai cũng hoan hỉ y giáo phụng hành.

2 – PHẬT DỤ HOA SEN ĐỂ KHUYẾN KHÍCH NHỮNG TÂN SA MÔN THỐI CHÍ

Thuở xưa đức Phật trú trên núi Kỳ-xà-quật thành La-duyệt-kỳ. Lúc đó, trong thành có năm mươi chàng thanh niên, con các bậc trưởng giả đến chỗ Phật đảnh lễ rồi ngồi qua một bên. Đức Phật thuyết giảng cho họ nghe các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, ân ái như giấc mộng, gặp gỡ sẽ phân ly, giàu sang danh vọng vẫn khổ đau, chỉ có Niết-bàn dứt hẳn sinh tử, không còn tai ương mới là đại an lạc.

Nghe pháp xong, năm mươi vị này tâm vô cùng hoan hỉ, xin làm đệ tử. Đức Phật nói:

– Lành thay, hãy lại đây các Tỳ-kheo!

Các vị ấy râu tóc tự rụng, pháp phục đầy đủ, liền thành Sa-môn. Các tân Tỳ-kheo này có bạn bè quen biết là những vị trưởng giả, nghe tin họ xuất gia hoan hỉ tìm đến thăm và khen ngợi:

– Các vị thật phước đức biết bao mới có được chí hướng này!

Rồi họ thỉnh Phật và chúng Tăng ngày mai về nhà họ thọ trai.

Ngày mai, đức Phật và đại chúng đến đó thọ trai xong rồi thuyết pháp đến chiều mới về. Các vị tân Tỳ-kheo bỗng lưu luyến gia đình quyến thuộc, muốn trở về nhà. Đức Phật biết ý, khi sắp ra cổng thành, gặp bên đường có thửa ruộng bùn lầy hôi nhơ lại mọc lên những đóa sen hương sắc thơm sạch, tỏa ngát lấn át bùn nhơ. Đức Phật bèn rảo bước lại gần và nói lên bài kệ:

Như ruộng nước hôi nhơ

Bên đường cái nằm trơ

Hoa sen mọc trong đó

Thơm sạch đẹp ý người.

Cũng vậy giữa phàm phu

Bị sinh tử cầm tù

Người trí vui giải thoát

Làm Phật tử tiến tu.

Đức Phật nói kệ xong liền trở về núi. Tôn giả A-nan đến trước Phật thưa:

– Lúc nãy, đức Thế Tôn đến bên ruộng nước có nói hai bài kệ mà chúng con chưa rõ nghĩa. Xin Phật hãy vì chúng con mà giải thích kỹ càng.

Đức Phật hỏi A-nan:

– Ông có thấy trong vũng bùn lầy nhơ nhớp mà mọc lên hoa sen chăng?

– Bạch đức Thế Tôn, con có thấy – A-nan đáp.

Đức Phật bảo:

– Này A-nan, người sống trong đời tuổi định một trăm, khi thọ khi yểu. Vợ con ân ái, đói khát nóng lạnh, lúc buồn lúc vui, có một điều hung, hai sự kiết, ba món độc, bốn điên đảo, năm ấm, sáu nhập, bảy thức, tám tà, chín não, mười ác, giống như thửa ruộng chứa đầy phân đất, sình lầy bất tịnh. Nếu có người giác ngộ cõi đời là vô thường, phát tâm học đạo tu hành thanh tịnh, tâm an định, dứt hết vọng tưởng chứng được đạo quả. Đây cũng giống như hoa sen thơm sạch mọc lên giữa bùn nhơ. Những vị đó đã tự đắc đạo lại độ cho thân tộc, tất cả chúng sinh đều được khai ngộ. Đây giống như mùi thơm của hoa sen lấn át mùi bùn nhơ.

Năm mươi vị tân Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, tâm chí tinh tấn kiên cố, chứng được quả A-la-hán.

PHẨM THỨ MƯỜI LĂM

NGU ÁM

1 – PHẬT KHÔNG ĐỘ ĐƯỢC LÃO BÀ LA MÔN NGU ÁM

Thuở xưa đức Phật trú tại nước Xá-vệ. Trong thành có một vị Bà-la-môn tuổi gần tám mươi, giàu có vô số. Nhưng ông lại là người ngu ám ngoan cố, xan tham khó độ, không tin đạo đức, không biết vô thường, ham thích cất nhà to lớn đẹp đẽ. Ông cất nhà trên, nhà dưới, đài hóng mát, nhà sưởi ấm, dãy bên đông, dãy bên tây… cả mấy mươi gian, duy chỉ còn mái hiên che nắng căn nhà sau là chưa xong. Lúc đó vị Bà-la-môn để hết tâm trí lo chỉ huy mọi người làm việc. Đức Phật dùng Phật nhãn thấy mạng ông sống không hết ngày hôm đó. Thế mà ông không tự biết, cứ mải miết lo tính nhọc nhằn, đến nỗi thân tâm tiều tụy, thật vô phước đáng thương!

Đức Phật cùng A-nan đi đến nhà ông, thăm hỏi:

– Ông có nhọc mệt lắm không? Nhà cửa xây dựng nhiều như vậy dùng để
làm gì?

Ông lão đáp:

– Nhà trước dùng tiếp khách, nhà sau để ở, hai dãy bên đông bên tây dành cho dâu con, tôi tớ và cất chứa của cải. Mùa hạ thì lên đài hóng mát, mùa đông lại vào phòng sưởi ấm.

Đức Phật nói:

– Đã lâu nghe danh đức của ông, mà nay mới có dịp trò chuyện. Tôi có một bài kệ quan trọng có ích lợi cho cả kẻ còn người mất, muốn đem tặng ông. Không biết ông có vui lòng nghỉ tay ngồi nói chuyện một chút không?

Ông lão đáp:

– Hôm nay bận lắm, không thể ngồi trò chuyện, xin hẹn hôm khác đến sẽ thong thả luận bàn. Còn bài kệ quan trọng gì đó xin nói ngay đi.

Lúc ấy, đức Thế Tôn liền nói kệ:

Có con cái tài sản

Người ngu phải rộn ràng

Ta còn không thật có

Lo gì của và con?

Nóng nên ở chỗ này

Lạnh nên ở chỗ kia

Người ngu lo tính hoài

Không biết lẽ đổi thay.

Kẻ ngu muội cực cùng

Tự cho mình là trí

Ngu mà tưởng hơn trí

Đó chính là cực ngu!

Vị Bà-la-môn nghe xong nói:

– Bài kệ này hay thật. Nhưng hôm nay tôi rất bận, xin bữa khác hãy đến bàn luận.

Đức Phật chỉ còn biết xót thương ra đi.

Ông lão sau đó đích thân chỉ huy mọi người gác đòn dông. Không ngờ cây đòn dông rơi xuống trúng vỡ đầu chết.
Con cháu than khóc động cả hàng xóm xung quanh.

Đức Phật đi chưa bao xa liền xảy ra biến cố này. Khi Phật đến đầu làng gặp vài mươi người Phạm Chí, họ hỏi Phật:

– Ngài từ đâu lại?

Đức Phật đáp:

– Ta vừa đến nhà ông lão mới chết để thuyết pháp cho ông nghe. Nhưng ông ta không tin lời Phật, không biết lẽ vô thường, giờ đây bỗng chốc đã sang
đời khác!

Rồi đức Phật nói lại bài kệ trước cho các vị Phạm Chí này nghe, ai nấy đều hoan hỉ chứng được Pháp nhân.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Ngu si gần người trí

Như muỗng kia múc vị

Dầu gần gũi rất lâu

Vẫn không thông hiểu pháp.

Thông đạt gần người trí

Như lưỡi kia nếm vị

Dầu gần nhau giây lát

Liền hiểu rõ đạo mầu.

Người ngu làm điều chi

Cũng rước họa vào mình

Thích ý làm điều ác

Tự chuốc lấy tai ương.

Làm xong điều bất thiện

Xét lại tâm ăn năn

Đầm đìa rơi nước mắt

Bởi nhân quả không lầm.

Các Phạm Chí nghe thêm bài kệ này lòng tin càng kiên cố, đảnh lễ đức Phật rồi hoan hỉ phụng hành.

2 – CÔNG CHÚA KIM CƯƠNG VÀ NĂM TRĂM THỂ NỮ TRẢ QUẢ

Thuở xưa, đức Phật trú tại tinh xá Cấp Cô Độc nước Xá-vệ vì hàng trời người thuyết pháp. Lúc ấy vua Ba-tư-nặc có một người con gái duy nhất tên là Kim Cương, tuổi đã cặp kê mà chưa lập gia đình. Vua và hoàng hậu rất thương yêu chìu chuộng, xây riêng một tòa cung điện và cho năm trăm thị nữ đàn hay múa giỏi phục vụ. Trong số đó có một cô lớn tuổi tên là Độ Thắng, thường ngày đi chợ mua phấn sáp hương hoa. Một hôm đi chợ, cô thấy rất đông người mua hương hoa đi ra ngoài thành đến chỗ Phật. Cô ngạc nhiên hỏi thăm, thì được trả lời:

– Đức Phật là bậc tôn quí trong ba cõi đang ra đời cứu độ chúng sinh khỏi khổ não được Niết-bàn.

Độ Thắng nghe xong tâm sinh hoan hỉ, liền tự nghĩ rằng: “Mình lớn tuổi rồi mà còn được gặp Phật thì thật là duyên phước đời trước”.

Nghĩ xong, cô bèn lấy một phần hương còn bao nhiêu gởi lại chợ, rồi mua hoa tươi đẹp theo mọi người đến chỗ Phật. Đến nơi nàng đảnh lễ, rải hoa, đốt hương cúng dường, rồi đứng qua một bên nhất tâm nghe pháp. Sau đó Độ Thắng trở lại chợ lấy số hương đã gởi ra về. Nhờ công đức nghe pháp và phước báo đời trước nên hương nàng đem về thơm ngào ngạt gấp đôi lúc thường.

Kim Cương chờ mãi mới thấy Độ Thắng trở về, gạn hỏi lý do về trễ. Độ Thắng bèn kể lại mọi việc rồi nói:

– Hiện nay có bậc tối tôn trong tam giới, gióng tiếng trống pháp, chấn động khắp tam thiên thế giới. Có vô số người đến đó nghe pháp, tôi thật vì theo nghe nên trở về trễ.

Kim Cương và các thị nữ nghe xong vừa hoan hỉ vừa buồn bã tự than rằng:

– Chúng ta tội chướng gì sao lại không được nghe pháp.

Rồi họ cùng nhau nhờ Độ Thắng nói lại cho nghe. Độ Thắng đáp:

– Thân tôi hạ tiện, miệng tôi ô uế không dám tùy tiện nói. Nay xin đến gặp Phật hỏi lại, tùy Ngài dạy gì sẽ làm như vậy.

Nói xong, Độ Thắng lại đến chỗ Phật thỉnh ý. Đức Phật bèn dạy cho cô những nghi thức thuyết pháp như thế nào. Trong khi Độ Thắng chưa về, Kim Cương và các thị nữ tâm thành ra sân đứng đón, như con chờ mẹ. Đức Phật bảo với Độ Thắng:

– Con trở về thuyết pháp sẽ độ thoát nhiều người. Nghi thức thuyết pháp trước nên lập một tòa cao, rồi ngồi trên đó giảng pháp.

Độ Thắng trở về thưa lại thánh ý. Kim Cương và hơn năm trăm thị nữ vô cùng hoan hỉ, cùng nhau cởi áo ngoài chất lại làm tòa. Độ Thắng tắm rửa, rồi thừa oai thần Phật thăng tòa thuyết pháp. Kim Cương và hơn năm trăm thị nữ nhờ đó dứt hết nghi ngờ, không còn ác kiến chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn. Do vì quá hoan hỉ thuyết pháp và nghe pháp nên cung điện bốc cháy mà mọi người không hay, Tất cả đều chết và được sinh lên cõi trời. Vua Ba-tư-nặc hay tin liền dẫn người đến cứu. Nhưng đến nơi tất cả đều đã chết. Vua chỉ còn biết đau khổ thâu lượm thi hài lo việc chôn cất.

Mọi việc xong, Vua đến chỗ Phật đảnh lễ rồi ngồi qua một bên. Đức Phật hỏi:

– Vua từ đâu đến?

Vua chắp tay thưa:

– Con gái con là Kim Cương và hơn năm trăm thị nữ chẳng may bị lửa thiêu chết. Con lo việc chôn cất xong mới ghé qua đây. Chẳng biết Kim Cương mang tội gì mà bị lửa thiêu như vậy. Xin đức Thế Tôn giảng cho con biết.

Đức Phật mới kể:

Đời quá khứ có một thành tên là Ba-la-nại. Trong thành có một người vợ trưởng giả cùng năm trăm thị nữ ra ngoài thành tế tự. Cách họ cúng tế rất khó khăn nghiêm khắc, người ngoài không được đến gần. Không luận thân sơ, nếu ai vi phạm sẽ bị ném vào lửa. Lúc đó, có một vị Bích Chi Phật tên là Ca-la ở trong núi. Mỗi ngày lúc sáng sớm vị ấy vào thành khất thực đến chiều lại về. Hôm đó, Ca-la đi khất thực đến chỗ tế tự. Vợ trưởng giả thấy vậy nổi giận, cùng nhau bắt Ca-la ném vào lửa. Thân Ca-la liền bị thiêu cháy, bỗng nhiên Ngài hiện thần thông bay lên hư không. Các cô vô cùng kinh hãi, khóc lóc sám hối, quỳ gối đảnh lễ rồi tự thưa rằng:

– Người nữ chúng con ngu xuẩn không biết Ngài là bậc chí nhân nên đã lỡ lầm hủy nhục Thánh tăng. Chúng con tự nghĩ tội ác của mình thật nhiều như núi, nên xin quy y tôn đức để tiêu trọng tội.

Vị Bích Chi Phật nghe xong hạ mình xuống, nhập Niết-bàn. Các cô liền xây tháp cúng dường Xá-lợi.

Đức Phật kể đến đó bèn nói kệ:

Người ngu làm điều ác

Không tự biết lỗi lầm

Khi tội thành, họa đến

Tự thiêu đốt thân tâm.

Người ngu khi mong tưởng

Chẳng xét khổ phải vương

Lúc mình lâm ách nạn

Bất thiện mới tỏ tường.

Đức Phật nói với vua:

– Vợ trưởng giả ngày đó chính là Kim Cương con gái vua hiện nay. Năm trăm thị nữ thuở xưa chính là năm trăm tỳ nữ như Độ Thắng v.v… Tội phước dầu lâu vẫn không mất. Thiện ác theo người như bóng theo hình.

Nghe được thời pháp này, nhân dân trong nước đều tin phục hoan hỉ, quy y Tam bảo, thọ Ngũ giới, thấy được lẽ đạo.

PHẨM THỨ MƯỜI SÁU

MINH TRIẾT

1 – PHẬT DÙNG PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐỘ PHẠM CHÍ TRẺ TUỔI

Thuở xưa có một vị Phạm Chí  tuổi mới hai mươi mà có thiên tài bẩm sinh, mọi việc lớn nhỏ liếc qua liền biết. Anh ta tự cho mình là minh triết, thề rằng:

– Quyết sẽ thông hiểu hết những kỹ thuật trong thiên hạ, nếu còn một nghề nào chưa thông thì chưa phải là minh triết.

Do đó, vị Phạm Chí đi du học với tất cả thầy hay, lục nghệ tạp thuật, thiên văn, địa lý, y học, thuật trấn áp núi lở động đất, thông thạo kỹ nhạc, cắt may, thêu thùa, nấu nướng bếp núc… nói chung mọi việc trong đời đều biết. Phạm Chí tự nghĩ: “Mình giỏi như vậy, ai mà sánh bằng! Chi bằng, hãy thử đi qua các nước, thi thố tài nghệ chiết phục mọi người để danh vang bốn biển, tên tuổi lưu lại trong sử sách sau này”.

Bấy giờ vị ấy đi khắp nơi. Đến một nước, anh vào chợ gặp một người thợ làm cung tên đang ngồi tách dây gân, chuốt mũi tên, tay làm thoăn thoắt. Mọi người che lấn nhau mua. Phạm Chí tự nghĩ: “Sở học của ta tưởng đã đầy đủ, không ngờ coi thường không học làm cung, nếu cùng người ấy thì tài ta chắc chắn sẽ thua. Ta nên theo người này học nghề”.

Nghĩ xong, anh bèn bái vị thợ cung làm thầy, dốc lòng học hỏi. Không bao lâu, anh đã biết cách làm cung chuốt tên, khéo léo còn hơn cả thầy. Anh trả tiền công cho thầy rồi từ giã ra đi.

Đến nước khác, khi sắp qua sông anh gặp một vị thuyền sư lèo lái thuyền tới lui, qua lại, lượn vòng một cách khéo léo, nhanh nhẹn như bay, thật chưa từng thấy! Anh tự nghĩ: “Mình tuy biết nhiều nghề, song chưa từng học lái thuyền. Đây dù chỉ là một nghề mọn, ta cũng nên học qua cho biết”. Anh liền xin học nghề với vị thuyền sư. Nhờ siêng năng thờ thầy, hết lòng học tập chẳng bao lâu anh đã nắm vững mọi kỹ thuật lái thuyền, còn nhanh nhẹn khéo léo hơn cả thầy. Sau đó anh từ giã thầy ra đi.

Vị Phạm Chí đi đến một nước khác, thấy cung điện của vua này nguy nga lộng lẫy nhất trong thiên hạ. Anh liền nghĩ: “Người thợ xây cất cung điện này thật là hay khéo. Ta sao trước giờ không chịu học môn này, nếu cùng với người thợ đó thi tài chắc chắn sẽ thua! Ta phải theo học mới vừa lòng”.

Anh xin làm đệ tử với người thợ xây cất cung điện. Nhờ tận tâm lo lắng cho thầy, chịu cực chịu khổ học nghề, chẳng bao lâu anh đã nắm vững mọi kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc trang trí. Tài ba của anh còn vượt hơn cả thầy. Anh tặng thầy tất cả tiền bạc rồi ra đi.

Phạm Chí đi khắp mười sáu nước trong thiên hạ, thách mọi người thi tài mà không có ai dám. Nhân đó, Phạm Chí sinh tâm cống cao tự đại, cho rằng: “Trong đời này còn ai hơn ta nữa?”

Lúc ấy, đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên xa thấy người này, biết rằng có thể độ được, Phật liền hóa ra một vị Sa-môn cầm tích trượng ôm bình bát đến trước người đó. Trong nước, lúc ấy chưa có đạo pháp, chưa từng thấy Sa-môn nên vị Phạm Chí lấy làm lạ không biết đó là hạng người gì. Ông định hỏi thăm thì Sa-môn đã đến cạnh bên. Ông liền hỏi:

– Tôi đã đi qua nhiều nước, thấy nhiều phong tục phục sức, mà chưa thấy ai ăn mặc như ông. Những vật lạ trong tông miếu tôi từng thấy qua, song không thứ nào giống bình bát ông cầm. Ông là ai mà hình dáng trang phục khác thường như vậy?

Vị Sa-môn trả lời:

– Tôi là người tự điều phục mình.

Vị Phạm Chí ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Sao gọi là tự điều phục mình?

Bấy giờ vị Sa-môn bèn dựa vào sự học tập của ông Phạm Chí mà nói kệ:

Thợ cung lo chuốt tên

Thuyền sư lo lái thuyền

Thợ mộc lo cưa đục

Người trí điều phục mình.

Như tảng đá to lớn

Gió thổi chẳng động lay

Người trí tâm an định

Khen chê chẳng đổi thay.

Như hồ nước rất sâu

Trong lặng, sáng một màu

Người trí tuệ nghe đạo

Tâm thanh tịnh hết sầu.

Vị Sa-môn nói kệ xong, bay lên hư không, hiện lại thân Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm, hào quang rực rỡ chiếu khắp đất trời. Rồi đức Phật lại hạ xuống đất, nói với vị Phạm Chí:

– Đây chính là sức điều phục mình biến hóa ra trong đạo của ta.

Phạm Chí liền quỳ mọp sát đất đảnh lễ, rồi hỏi:

– Xin cho biết yếu chỉ điều phục mình?

Đức Phật đáp:

– Năm giới, thập thiện, lục độ, bốn tâm bình đẳng, tứ thiền, ba môn giải thoát chính là pháp yếu điều phục mình. Các kỹ thuật như làm cung, lái thuyền, điêu khắc… đều là việc hay giỏi trong thế gian, tâm ý buông lung sẽ đi vào đường sinh tử.

Phạm Chí nghe xong, hoan hỉ xin làm đệ tử Phật. Đức Phật bảo:

– Lành thay, hãy lại đây Tỳ-kheo.

Phạm Chí râu tóc liền tự rụng, đầy đủ pháp phục thành Sa-môn.

Sau đó, đức Phật giảng cho vị ấy nghe các pháp yếu như tứ đế, bát giải thoát. Vị ấy tư duy quán chiếu liền chứng quả A-la-hán.

2 – PHẬT PHÓNG HÀO QUANG VÀ ĐẾN CỨU HAI ĐỨA BÉ SONG SINH

Thuở xưa, đức Phật trú tại nước Xá-vệ. Trong nước, cách thành năm trăm dặm có một làng sơn cước gồm năm mươi gia đình. Trong làng, có một gia đình nghèo, người vợ mang song thai sinh được hai nam rất xinh đẹp. Hai vợ chồng rất thương yêu con, đặt tên cho một đứa là Song Đức, một đứa là Song Phúc. Sinh ra được gần hai tháng, một hôm nhân lúc người mẹ ra ngoài kiếm củi, còn người cha nằm nghỉ trên giường sau khi chăn trâu về, hai đứa trẻ nhìn quanh quất không thấy ai bèn than thở với nhau. Một đứa nói:

– Đời trước tôi sắp đắc đạo, lại khởi ý ngu si cho rằng mạng sống là thường, nên đã lui sụt, trôi lăn trong sinh tử không biết bao nhiêu kiếp, nay sinh ra làm con trong gia đình nghèo này, ở nhà tranh, mặc áo rách, ăn uống kham khổ để nuôi thân, không biết đến chừng nào mới đắc đạo? Đây cũng là do đời trước tham luyến giàu sang, buông lung tình ý, tìm vui trong chốc lát mà từ đó đến nay phải chịu biết bao nhiêu đau khổ. Nay còn biết nhờ cậy vào ai?

Đứa kia nói:

– Tôi kiếp xưa, lúc trẻ buông lung tham đắm, không lo tinh tấn tụ tập nên nhiều đời gặp phải các khổ hoạn. Đây là mình làm mình chịu, không phải cha mẹ gây ra. Chúng ta phải chịu đựng còn than thở gì?

Người cha nghe hai con nói vô cùng quái lạ, suy nghĩ: “Đây chắc là ma quỷ đầu thai, ắt có tai biến. Làm gì mà trẻ con mới mấy mươi ngày mà đã biết nói. Sợ rằng ngày sau chúng sẽ giết cha mẹ, hại thân tộc. Nhân lúc chúng còn nhỏ chưa lớn ta nên giết đi để trừ hậu hoạn”.

Nghĩ vậy xong, ông lén ra khỏi nhà đóng cửa lại, ra đồng lấy củi về định đốt chết hai con. Người mẹ trở về hỏi chồng lấy củi làm chi. Người chồng đáp:

– Thật là chuyện kinh quái! Mấy đứa con còn nhỏ mà đã biết nói chuyện. Đây chính là quỷ ma, chắc sẽ làm hại gia tộc, nên tôi định giết chúng ngay lúc nhỏ.

Người mẹ nghe xong, ngạc nhiên do dự chưa tin, bà bảo với chồng hãy tạm chờ vài bữa nữa rồi sẽ tính.

Sáng hôm sau, hai vợ chồng lén ra ngoài, núp bên cửa rình nghe, quả nhiên thấy hai đứa trẻ than thở với nhau y như cũ. Hai người lần này quyết tâm chất củi đốt chết hai đứa con.

Đức Phật với thiên nhãn thấy được việc này, thương cho hai đứa bé có túc phước đáng độ nên đến làng đó phóng hào quang rực rỡ, trời đất rung động, vạn vật đều trở nên sắc vàng. Dân làng ai cũng kinh ngạc, hoan hỉ đến chỗ Phật đảnh lễ vì biết đây là bậc chí tôn trong tam giới. Đức Phật đi thẳng đến nhà hai đứa bé, chúng thấy hào quang rực rỡ của Phật, mừng vui khôn xiết. Hai vợ chồng thấy thế ngạc nhiên, mỗi người bồng một đứa đến chỗ Phật hỏi:

– Bạch đức Thế Tôn, hai đứa trẻ này sinh ra mới gần hai tháng mà đã biết nói chuyện như thế. Chúng con không biết lẽ gì, e rằng sau này chúng sẽ gây họa nên định phóng lửa đốt chết, song chưa kịp làm thì Phật đã đến. Không biết đây là ma quỷ gì, xin Phật giải thích, lại nữa vì sao chúng thấy Phật lại ra vẻ mừng vui?

Đức Phật trông thấy hai đứa trẻ bèn mỉm cười, hào quang năm sắc từ miệng phóng ra tỏa sáng khắp đất trời, rồi bảo với cha mẹ đứa bé và nhân dân trong làng:

– Hai đứa trẻ này không phải ma quỷ mà là con phúc đức. Vào thời Phật Ca-diếp chúng đã từng làm Sa-môn. Hai đứa thuở nhỏ đã kết bạn chung chí xuất gia, tu hành tinh tấn. Khi sắp đắc đạo, hai người bỗng khởi tà tưởng chướng ngăn giải thoát, tham đắm vinh hoa. Họ suy nghĩ sai lầm: “Chỉ cần tu phước sẽ sinh lên cõi trời, thấp lắm cũng làm vua chúa trưởng giả tha hồ hưởng thọ ngũ dục”. Tà tưởng vừa sinh liền thối chuyển đạo tâm, không được Niết-bàn, rơi vào trong sinh tử, nhiều đời nhiều kiếp thường gần bên nhau. Đến đời ta lại sinh đôi trong nhà nghèo này. Nhờ công đức cúng dường Phật quá khứ nên còn dư phước có thể được độ, tội hết  phước sinh, biết túc mạng mình, nên nay đức Thế Tôn đến đây để độ. Nếu ta không độ chúng sẽ bị thiêu chết oan uổng.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đại nhân tánh vô dục

An trú nơi quang minh

Dù gặp cảnh khổ vui

An nhiên, trí hiện tiền.

Đại hiền không nhiễm đời

Không mong của, nước, con

Thường giữ đạo giới tuệ

Không tham phú quí tà.

Trí giả biết vô thường

Cảnh giác cây trên cát

Bạn chí không kiên cường

Như sắc trắng nhiễm màu.

Đức Phật nói kệ xong, hai đứa bé thấy thân Phật liền vươn mình lớn lên như trẻ tám tuổi, rồi làm Sa-di chứng quả A-la-hán. Người trong làng thấy hào quang Phật, lại thấy hai đứa bé thay đổi lạ thường đều rất hoan hỉ đắc quả Tu-đà-hoàn. Cha mẹ đứa bé dứt hết nghi ngờ chứng được Pháp nhãn.

PHẨM THỨ MƯỜI BẢY

A LA HÁN

NGƯỜI Ở GIÚP CHỦ NHÀ GIÀU CÓ, ĐI TU ĐẮC ĐẠO ĐỘ CHỦ VÀ NHỮNG NGƯỜI TRONG NƯỚC

Thuở xưa, có một nước tên là Na-lê gần miền biển phía nam. Nhân dân nước đó sống bằng nghề mò ngọc trai, tìm gỗ chiên đàn. Trong nước có một nhà gồm hai anh em, cha mẹ mới mất định chia tài sản riêng. Nhà có một người nô lệ tên là Phân-na tuổi nhỏ thông minh, rành việc buôn bán và ra biển kiếm ngọc trai. Cách chia gia tài của họ là: nhà cửa tài sản tính làm một phần, nô lệ Phân-na tính làm một phần. Hai người rút thăm, người em bắt được phần nô lệ, bèn cùng vợ con với người nô lệ tay trắng ra đi. Lúc ấy dân chúng đói khổ, mà chỉ được có người nô lệ, nên người em rất lo buồn không biết lấy gì để sống. Phân-na liền thưa với chủ rằng:

– Xin ngài đừng lo, Phân-na này sẽ tìm cách trong thời gian ngắn ngài sẽ giàu có hơn người anh.

Người em nói:

– Nếu ngươi làm được như vậy, ta sẽ trả tự do cho ngươi làm thường dân.

Vợ người em có một số châu ngọc riêng bèn giao cho Phân-na làm vốn. Lúc đó hải triều lên, dân chúng trong thành ra bờ biển nhặt củi. Phân-na đem châu ngọc ra ngoài thành gặp một đứa trẻ ăn xin vác củi. Trong bó củi có gỗ thơm ngưu đầu chiên đàn có thể trị bệnh nặng, một lượng đáng giá ngàn vàng. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, Phân-na biết bèn đem vàng bạc ra mua được hai cây về chặt ra làm vài mươi đoạn.

Lúc đó có một vị trưởng giả lâm bệnh nặng, cần hai lượng hương ngưu đầu chiên đàn hòa với thuốc uống, mà tìm không ra. Phân-na đem gỗ hương chiên đàn đến đổi lấy được hai ngàn lượng vàng, rồi mua sắm tất cả vật dụng giúp người em giàu hơn anh gấp bội. Người em cảm niệm ân của Phân-na nên giữ đúng lời hứa cho Phân-na tự do, tùy ý làm gì thì làm. Phân-na bèn từ giã gia đình người em ra đi học đạo.

Phân-na đến nước Xá-vệ đảnh lễ Phật rồi quỳ thẳng chắp tay thưa:

– Con là dòng dõi hạ tiện song rất hâm mộ đạo pháp. Xin đức Thế Tôn rủ lòng từ bị tế độ.

Đức Phật bảo:

– Lành thay, hãy lại đây Tỳ-kheo!

Phân-na râu tóc liền tự rụng, đầy đủ pháp phục thành vị Sa-môn. Đức Phật thuyết pháp cho Phân-na, nghe xong, Phân-na y giáo tu tập chứng quả A-la-hán.

Lúc đó A-la-hán Phân-na ngồi tư duy: “Ta sở dĩ ngày nay có được lục thông, tự do trước sinh tử là nhờ ân của chủ nhân. Nay ta sẽ đến độ cho ông và nhân dân trong nước”.

Phân-na nghĩ xong trở về nước mình, tìm đến nhà chủ cũ. Người em gặp lại Phân-na vô cùng hoan hỉ mời vào nhà đãi ăn, ăn uống rửa tay xong. Phân-na bay lên không trung, phân thân, nửa mình phun nước, nửa mình phun lửa, hào quang rực rỡ rồi hạ xuống đất nói với người chủ cũ rằng:

– Thần thông oai đức ngày nay tôi có được là nhờ ân ngài phóng xá cho tôi đến chỗ Phật tu học mới được như vậy.

Người chủ đáp:

– Phật thần thông oai đức, giáo hóa vi diệu như thế, tôi xin được gặp Phật để nghe lời dạy bảo.

Phân-na đáp:

– Chỉ cần ngài chí tâm thiết cúng trai soạn đầy đủ, đức Phật có đủ tam minh tất sẽ tự đến.

Người chủ nghe lời sắp đặt mọi thứ xong, bèn hướng về Xá-vệ đảnh lễ, thắp hương quỳ thẳng thành tâm cung thỉnh đức Phật từ bi quang lâm, làm lợi ích cho mọi người.

Đức Thế Tôn liền biết được tâm niệm họ, nên cùng năm trăm vị A-la-hán dùng thần túc đến nhà đó. Quốc vương và nhân dân đều vô cùng cung kính đến chỗ Phật đảnh lễ, rồi nghồi qua một bên. Thọ thực rửa tay xong, đức Phật vì người chủ và vua quan nhân dân trong nước thuyết pháp. Nghe xong, tất cả đều hoan hỉ xin thọ Tam quy Ngũ giới làm đệ tử Phật, rồi đứng lên khen ngợi Phân-na:

– Tại gia thì siêng năng, xuất gia thì đắc đạo, thần đức cao cả giúp gia đình và quốc gia đều được độ. Chúng tôi biết làm thế nào để đáp đền ân đức này?

Lúc ấy đức Thế Tôn lại nói kệ khen ngợi Phân-na:

Tâm vọng tưởng dừng nghỉ

Ngôn hành cũng lặng yên

Theo chánh đạo giải thoát

Về diệt độ an nhiên.

Bỏ dục lạc, không nhiễm

Tam giới hết chướng ngăn

Ý mong cầu dứt tuyệt

Đây là bậc thượng nhân.

Xóm làng hoặc đồng trống

Bình nguyên hay núi cao

La-hán  đến nơi nào

Nơi đó được hóa độ.

Vị ấy vui vắng lặng

Mọi người không làm đặng

Hạnh phúc thay! Vô dục

Không mong cầu, ước vọng.

Đức Phật nói kệ xong, người chủ và vua càng thêm hoan hỉ, thỉnh Phật lưu lại cúng dường trong bảy ngày, cả hai đều chứng quả Tu-đà-hoàn.

PHẨM THỨ MƯỜI TÁM

THUẬT THIÊN

1 – PHẬT ĐỘ BÀN ĐẶC

Thuở xưa, đức Phật trú tại nước Xá-vệ. Trong nước có một Tỳ-kheo lớn tuổi tên là Bàn-đặc. Ông là người mới xuất gia, tánh tình ám độn. Đức Phật sai năm trăm vị A-la-hán hằng ngày dạy ông, thế mà trong ba năm ông vẫn học không xong một bài kệ! Mọi người trong nước ai cũng biết ông ngu muội. Đức Phật thương xót, bèn gọi ông lại dạy cho một bài kệ:

Giữ miệng, thu nhiếp ý

Thân không phạm lỗi chi

Ai làm được như vậy

Sinh tử chẳng còn gì.

Bàn-đặc cảm Phật từ ân, tâm hoan hỉ khai sáng, tụng thuộc bài kệ này.

Đức Phật bảo:

– Ông tuổi đã lớn mới thuộc được một bài kệ thông thường ai cũng biết, đây chẳng có chi là kỳ đặc. Ta nay sẽ giảng giải cho ông nghe nghĩa lý của bài kệ này, hãy nhất tâm lắng nghe.

Bàn-đặc vâng lời nhất tâm nghe giảng. Đức Phật vì ông mà nói nguyên nhân mà ba nghiệp thân khẩu ý tạo tác, thân có ba, miệng có bốn, ý có ba. Và khuyên ông hãy quán chiếu những nghiệp này, sinh khởi như thế nào, chấm dứt ra sao, chúng sinh trôi lăn không ngừng trong ngũ thú tam giới, do nó mà sinh thiên, do nó mà đọa lạc, lại cũng nhờ nó mà đắc đạo quả, chứng Niết-bàn. Đức Phật vì Bàn-đặc giảng nói vô lượng diệu pháp.

Bàn-đặc nghe giảng hoát nhiên tâm trí khai ngộ, liền chứng quả A-la-hán.

Lúc ấy có năm trăm vị Tỳ-kheo Ni ở tinh xá riêng. Đức Phật mỗi ngày cử một vị Tỳ-kheo đến đó giảng kinh thuyết pháp. Hôm sau là đến phiên Bàn-đặc sang bên Ni thuyết pháp. Ni chúng biết tin đều cười nhạo, khinh miệt nói với nhau:

– Ngày mai hễ ông Bàn-đặc đến, chị em mình nói đón trước bài kệ đó cho ông ta nghe, khiến ông hổ thẹn ngậm miệng.

Hôm sau, Bàn-đặc đến chỗ các Tỳ-kheo Ni. Các cô lớn nhỏ đều ra làm lễ, rồi ngó nhau cười khúc khích. Các cô mời Bàn-đặc ngồi rồi dọn thức ăn ra cúng dường. Thọ trai rửa tay xong, các cô lại thỉnh ông thuyết pháp. Bàn-đặc lên tòa cao, hạ mình khiêm tốn nói:

– Tôi là kẻ đức bạc tài sơ, chưa xứng làm bậc Sa-môn. Tánh tình lại vốn ám độn, không học hành chi nhiều, chỉ biết một bài kệ và hiểu sơ ý nghĩa của nó, nay sẽ vì các vị giải nói, xin hãy nhất tâm lắng nghe.

Các Tỳ-kheo Ni trẻ tuổi định nói đón trước bài kệ đó mà không sao mở miệng được. Tất cả đều kinh sợ tự trách, cúi đầu ăn năn.

Bàn-đặc liền như Phật đã dạy, giảng cặn kẽ từng chút về ba nghiệp thân khẩu ý gây tạo tội phước ra sao, những pháp sinh thiên, đắc đạo quả, ngưng thần, trừ vọng tưởng, nhập chánh định.

Các Tỳ-kheo Ni nghe lời giảng dạy vô cùng kinh ngạc, hoan hỉ nhất tâm lắng nghe, chứng được quả A-la-hán.

Hôm sau, vua Ba-tư-nặc thỉnh đức Phật và chư Tăng vào cung cúng dường. Đức Phật muốn hiển bày oai thần của Bàn-đặc nên giao bình bát cho ông cầm đi sau hết. Người gác cổng biết mặt Bàn-đặc là người ngu tối nên chẳng cho vào, khinh thường bảo:

– Ông là Sa-môn mà một bài kệ còn học không xong, nhận lời thỉnh vào cung làm gì? Tôi là người đời còn thuộc kinh kệ, huống chi ông là Sa-môn lại không có trí tuệ. Cúng dường cho ông thật vô ích. Thôi ông không cần vào cửa!

Lúc đó, Bàn-đặc đứng bên ngoài. Đức Phật ngồi trong cung rửa chân tay xong, Bàn-đặc liền cầm bát duỗi tay dài ra, đưa vào tận trong cung cho đức Phật. Vua và quần thần, phu nhân, thái tử chúng hội thấy có cánh tay mà không thấy người nên kinh ngạc hỏi Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đây là tay ai?

Đức Phật đáp:

– Đây là cánh tay của Tỳ-kheo Bàn-đặc gần đây mới đắc đạo. Ta lúc nãy giao cho ông ấy cầm bát, song người gác cửa lại chẳng cho vào, nên ông phải duỗi tay dài ra trao bát cho ta.

Vua nghe vậy liền cho người mời Bàn-đạc vào. Lúc đó Bàn-đạc uy nghi rạng rỡ, thần thái khác thường. Vua liền bạch với Phật:

– Con nghe đồn Tỳ-kheo Bàn-đặc tâm tánh ngu ám, mới biết được một bài kệ, vậy do duyên gì mà đắc đạo?

Đức Phật nói với vua:

– Học không cần phải nhiều, chủ yếu là phải thực hành, những gì đã học. Bàn-đặc hiểu nghĩa một bài kệ, thâm nhập nghĩa lý, thân khẩu ý vắng lặng thanh tịnh như vàng ròng cõi trời. Người học nhiều mà lại không hiểu nghĩa, không thực hành, chỉ uổng tâm nhọc trí nào có ích gì?

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Tuy tụng ngàn câu kệ

Ý nghĩa không chân chánh

Chẳng bằng một yếu nghĩa

Nghe rồi diệt được ác.

Tuy tụng được ngàn lời

Vô nghĩa có ích gì?

Chẳng bằng hiểu một nghĩa

Nghe thực hành được độ.

Tuy tụng kinh được nhiều

Không hiểu nghĩa ích gì

Hiểu được một Pháp Cú

Hành theo đắc được đạo.

Đức Phật nói kệ xong, ba trăm vị Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Vua và quần thần, phu nhân, thái tử không ai là không hoan hỷ.

2 – PHẬT PHÂN TÍCH SỰ BỐ THÍ CHO TRƯỞNG GIẢ LAM ĐẠT

Thuở xưa, đức Phật trú tại tinh xá nước Xá-vệ, vì hàng trời người thuyết pháp. Lúc ấy, trong nước có một vị trưởng giả Bà-la-môn tên là Lam-đạt, giàu sang tột đỉnh, của cải trong nhà không biết bao nhiêu mà tính.

Ông thường theo pháp Bà-la-môn làm một cái đàn cao cúng tế, để tỏ rõ danh tiếng của mình. Lại nữa, năm năm một lần ông mở hội đại bố thí, cúng dường cho hơn năm ngàn vị Bà-la-môn. Trong vòng năm năm ông cung cấp các thứ y phục, giường chõng, thuốc men, cơm nước, của cải, báu vật… cho các Bà-la-môn. Các vị ấy cũng vì trưởng giả mà tế tự chư thiên, các vị thần núi, thần sông, tinh tú, nước, lửa… trong vòng năm năm. Họ chú nguyện cho trưởng giả mãi mãi hưởng phước.

Năm năm trôi qua, đến ngày cuối cùng, có cuộc bố thí lớn nhất đúng như pháp tắc của trưởng giả. Bát vàng đựng thóc bạc, bát bạc đựng thóc vàng, voi ngựa xe cộ, nô tỳ, của cải, đồ phục sức bằng thất bảo, giày dép, lọng dù, áo da hươu, tích trượng, sàng ngồi, thau chậu rửa chân tay, giường chiếu… tất cả những thứ cần dùng có hơn tám muôn bốn ngàn món đều đem bố thí hết.

Ngày ấy, tất cả các Bà-la-môn đều đến đại hội. Quỷ thần, quốc vương, đại thần, phạm chí, quí tộc hàng hàng lớp lớp khôngai là không hân hoan.

Đức Phật thấy việc đó than rằng:

– Ông Phạm Chí dòng dõi lớn này sao lại quá ngu si. Bố thí quá nhiều mà phước báo chẳng bao nhiêu, như gieo hạt giống vào lửa thì làm sao có được hoa trái? Nếu ta không giáo hóa, ông ây sẽ mãi mãi không thấy được chánh đạo.

Đức Phật bèn chấn chỉnh pháp phục đến đó, phóng ra hào quang tỏa chiếu khắp chúng hội. Ai thấy cũng cho là việc chưa từng có, kinh sợ không biết là vị thần nào. Trưởng giả Lam-đạt và đại chúng vội đảnh lễ Phật sát đất. Đức Phật thấy mọi người đều có tâm cung kính, nên nói kệ:

Hằng tháng bỏ ngàn vàng

Suốt đời lo tế tự

Không bằng trong khoảnh khắc

Nhất tâm suy niệm Pháp

Phước báo một niệm này

Hơn suốt đời tế tự.

Dầu suốt cả trăm năm

Lo phụng thờ thần lửa

Không bằng trong giây lát

Cúng dường Phật Pháp Tăng

Phước một lần cúng này

Hơn trăm năm thờ lửa.

Bấy giờ, đức Phật nói với trưởng giả Lam-đạt:

– Bố thí có bốn việc. Thế nào là bốn?

1- Cúng thí nhiều được phước báo ít.

2- Cúng thí ít được phước báo nhiều.

3- Cúng thí nhiều được phước báo nhiều.

4- Cúng thì ít được phước báo cũng ít.

* Sao là cũng thí nhiều được phước báo ít?

Đây là chỉ người ngu si sát sinh để tế tự, uống rượu ca vũ tốn hao của cải, không có phước tuệ.

* Sao là cúng thí ít được phước báo cũng ít?

Đây là người vì xan tham ác ý mà cúng thí các đạo sĩ phàm tục, cả hai bên đều ngu si nên không có phước.

* Sao gọi là cúng thí ít mà được phước báo nhiều?

Đây là do lòng từ mà cúng thí cho bậc tu sĩ đạo đức, thọ thực xong, các vị ấy tinh tấn tu học. Cúng thí như vậy tuy ít mà phước báo to lớn.

* Sao gọi là cúng thí nhiều được phước báo nhiều?

Nếu có bậc hiền giả giác ngộ cuộc đời vô thường, hảo tâm đem tiền của xây dựng chùa tháp, tinh xá, vườn cây, cúng dường tam tôn đầy đủ tứ sự, phước báo này như nước trăm sông chảy vào biển cả. Phước đức dồi dào đời đời không cùng tận. Đây chính là cúng thí nhiều phước báo càng nhiều. Thí như nhà nông làm ruộng, tùy ruộng đất màu mỡ hay cằn cỗi mà thu hoạch khác nhau.

Lúc ấy, trưởng giả Lam-đạt và chúng hội thấy sức thần biến hóa của Phật và nghe giảng pháp đều vô cùng hoan hỉ, chư thiên quỷ thần đều đắc đạo. Tu-đà-hoàn. Năm ngàn vị Phạm Chí xin xuất gia làm Sa-môn, sau đó đắc quả A-la-hán.

Trưởng giả Lam-đạt và cả gia đình lớn nhỏ đều thọ Năm giới, thấy được dấu đạo.

Quốc vương, đại thần đều thọ Tam quy y, làm Ưu-bà-Tắc, đắc được Pháp nhãn.

3 – PHẬT DẠY PHỤNG THỜ AI CÓ LỢI ÍCH

Thuở xưa, đức Phật giáo hóa ở tinh xá nước Xá-vệ. Lúc ấy, trong thành La-duyệt-kỳ có một người ngu si hung bạo, bất hiếu với mẹ cha, khinh khi người lương thiện, không kính bậc tôn trưởng. Ông ấy làm ăn thất bại, không được như ý nên thờ phụng lửa để cầu ban phước. Pháp tắc thờ lửa, mỗi ngày khi mặt trời vừa lặn phải thắp lên một đống lửa lớn rồi hướng về đó mà quỳ lạy có khi đến nửa đêm, lửa tắt mới thôi.

Người ấy thờ như vậy ba năm mà không được phước, bèn chuyển qua thờ mặt trời, mặt trăng. Pháp  tắc thờ mặt trời, mặt trăng là ban ngày khi mặt trời mới mọc, ban đêm  khi mặt trăng vừa lên thì hướng về đó mà lễ lạy đến chừng nào lặn mới thôi!

Người ấy thực hành như vậy ba năm mà vẫn không được phước bèn chuyển qua thờ trời, đốt hương quỳ lạy, dâng lên hương hoa, rượu thịt trâu bò heo dê tươi ngon cho đến khi nghèo túng mà vẫn không được phước báo!

Người ấy vì thế thân thể tiều tụy, bệnh hoạn ra cửa không nổi. Một hôm ông nghe được ở nước Xá-vệ có đức Phật là bậc chư thiên tôn kính, nên định đến đó phụng sự, mong được phước báo. Ông liền cố gắng qua nước Xá-vệ tìm đến chỗ Phật. Tới trước cửa tinh xá, khi nhìn thấy tôn dung uy nghiêm của đức Phật hào quang rực rỡ như trăng sáng nổi bật giữa muôn sao, người ấy tâm sinh hoan hỉ, quỳ xuống đảnh lễ đức Thế Tôn rồi chấp tay thưa rằng:

– Con sinh ra và lớn lên trong ngu muội, không biết gì đến Phật Pháp Tăng, chỉ lo thờ lửa, mặt trời, mặt trăng và các thiên thần. Chín năm cần khổ ròng rã không được chút phước nào, mà thân thể con lại tiều tụy, khí lực suy vi, bốn đại nhiều bệnh không biết sẽ chết ngày nào. Nay con biết được đức Thế Tôn là bậc thầy cứu độ chúng sinh, nên từ xa lại đây quy y, xin ban cho ân phước.

Đức Phật nói với ông rằng:

– Ông thờ phụng trước giờ toàn là yêu tà, quỷ mị. Cúng tế cầu đảo với những hạng ấy nhiều như núi thì tội lỗi cũng đầy ắp như sông biển! Sát sinh để cầu phước thì cách phước rất xa! Giả như ông trăm kiếp cần khổ sát sinh, đem tất cả bò dê trong thiên hạ ra tế tự cầu đảo, thì sẽ mang tội lớn như núi Tu-di mà phước chỉ nhỏ bằng hạt cải. Thật phí công của vô ích, há chẳng si hoặc lắm sao? Lại nữa, ông là người bất hiếu với cha mẹ, khinh khi người hiền, chẳng kính tôn trưởng, kiêu mạn cống cao, tam độc đầy dẫy, tội nghiệp ngày một sâu, do đâu mà được phước? Nếu ông có thể cải đổi tâm tánh, lễ kính bậc hiền, oai nghi lễ phép cung phụng bậc trưởng lão, bỏ ác làm lành, tu sửa bản thân, trải lòng từ bi thì bốn phước mỗi ngày một tăng, đời đời không gặp họa hoạn. Bốn phước đó là gì?

1- Nhan sắc đoan chánh.

2- Khí lực mạnh mẽ.

3- An ổn không bệnh.

4- Trường thọ, không bị chết oan.

Nếu ông tinh tấn tu theo những hạnh trên, không chút giải đãi thì có thể đắc đạo.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Tế thần để cầu phước

Xét quả báo về sau

So kính lễ bậc hiền

Bốn phần không được một.

Biết lễ độ khiêm cung

Thường kính bậc trưởng lão

Bốn phước tự nhiên tăng

Sắc, lực, thọ, an ổn.

Người đó nghe kệ xong hoan hỉ tin hiểu, đảnh lễ Phật rồi lại thưa rằng:

– Con vì tội cấu che ngăn đã gây ra tội lỗi trong suốt chín năm. Nay may nhờ lòng từ khai thị mới được thông hiểu. Xin đức Thế Tôn cho con được xuất gia làm Sa-môn.

Đức Phật bảo:

– Lành thay! Hãy lại đây Tỳ-kheo!

Người ấy râu tóc tự rụng, thành bậc Sa-môn. Sau đó, tinh cần quán niệm hơi thở, vị ấy chứng quả A-la-hán.

PHẨM THỨ MƯỜI CHÍN

ÁC HẠNH

1 – NĂM TRĂM CON KHI BẮT CHƯỚC CÚNG DƯỜNG THÁP TỰ ĐƯỢC SANH CÕI TRỜI

Thuở xưa, đức Phật trú tại thành La-duyệt-kỳ, từng sai một vị La-hán tên là Tu-mạn đem tóc và móng tay Phật đến núi phía nam nước Kế Tân xây tháp thờ cúng. Lúc ấy, trong núi có năm trăm con khỉ thấy các đạo nhân cúng dường bảo tháp, liền kéo nhau đến bên khe núi sâu vác đất đá bùn sình bắt chước xây một ngôi tháp, dựng cây làm cột rồi treo tràng phan lên đầu cây, sớm chiều lễ bái cũng như đạo nhân.

Một hôm nước trong khe núi dâng cao, nhận chìm chết cả đàn khỉ. Thần thức chúng liền sinh lên cung trời Đao-lợi thứ hai, ở trong cung điện thất bảo, việc ăn mặc tự nhiên có đầy đủ. Các vị trời mới hóa sinh suy nghĩ: “Chúng ta do nhân duyên gì được sinh lên cõi trời này?”.

Rồi họ dùng thiên nhãn xem thấy tiền thân là loài khỉ, nhờ bắt chước đạo nhân xây tháp lễ bái chơi, tuy bị nước cuốn chết mà thần thức được sinh lên trời. Vì vậy họ muốn trở xuống đền ân thân cũ. Chư thiên đó liền mang theo người hầu đem hương hoa, kỹ nhạc đến bên thây cũ rải hoa, xông hương, đi nhiễu quanh thây bảy vòng. Lúc ấy, trong núi có năm trăm vị Bà-la-môn ngoại đạo tà kiến, không tin tội phước, thấy chư thiên rải hoa, trỗi nhạc, đi nhiễu quanh thây khỉ đều ngạc nhiên hỏi:

– Chư thiên quang tướng uy nghi như vậy, cớ sao lại hạ mình cúng dường những thây chết này?

Các thiên nhân đáp:

– Những thây này chính là thân cũ của chúng tôi. Ngày xưa, chúng tôi ở đây bắt chước các đạo nhân lập chơi tháp miếu, bị nước khe dâng lên nhận chìm chết. Nhờ chút phước mọn đó nên nay được sinh thiên. Hôm nay xuống rải hoa là để đền ân thân cũ. Chỉ đùa chơi làm tháp mà còn được phước như thế, nếu chí tâm thờ Phật Thế tôn phước đức đó thật khó mà ví dụ cho được. Các ông tà kiến không tin đạo chân chánh, thì dầu cực khổ siêng tu trăm kiếp cũng không được một chút lợi ích. Chi bằng chúng ta hãy cùng nhau đến núi Kỳ-xà-quật đảnh lễ, cúng dường Phật thì sẽ được phước vô lượng.

Các Bà-la-môn nghe vậy vô cùng hoan hỉ, cùng chư thiên đồng đến chỗ Phật, thành tâm đảnh lễ, rải hoa cúng dường. Chư thiên bạch Phật:

– Chúng con đời trước mang thân khỉ, nhờ ân đức Thế Tôn mới được sinh thiên, hận mình không được gặp Phật, nên nay đến để quy y. Bạch đức Thế Tôn! Chúng con đời trước có tội gì phải mang thân khỉ, dầu xây dựng tháp miếu mà vẫn bị nước cuốn chết?

Đức Phật nói với các thiên nhân:

– Việc này có nhân duyên, không phải tự nhiên mà có. Ta sẽ vì các ông mà nói rõ nguyên nhân.

Thuở xưa có năm trăm vị thiếu niên Bà-la-môn cùng nhau vào núi muốn học đạo tiên. Lúc ấy, trên núi có một Sa-môn định xây một tinh xá. Vị ấy xuống khe suối lấy nước thân thể nhanh nhẹ như bay. Năm trăm Bà-la-môn thấy vậy sinh tâm tật đố, đồng thanh cười nhạo:

– Ông Sa-môn này lên xuống lật đật như khỉ, đâu có gì lạ! Ông ta lấy nước như vậy mãi, có ngày sẽ bị nước nhận chết chìm!

Đức Phật kể xong bảo với các
thiên nhân:

– Ông Sa-môn lên xuống núi thuở đó chính là thân ta, còn năm trăm vị Bà-la-môn thiếu niên chính là thân năm trăm con khỉ đó, vì cười đùa gây tội mà phải mắc quả báo như vậy.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đùa cười gây nên ác

Thân đã tạo nghiệp rồi

Sẽ khóc than thọ báo

Tội đến theo hành vi.

Đức Phật nói với các thiên nhân:

– Các ông đời trước tuy là thân loài thú mà biết chơi đùa xây cất tháp miếu, nên tội diệt phước sinh, được sinh lên cõi trời. Ngày nay các ông lại biết đến đây phụng trì chánh pháp, do nhân duyên này sẽ mãi mãi xa lìa các khổ.

Đức Phật giảng xong, năm trăm thiên nhân đều thấy được đạo. Còn năm trăm Bà-la-môn được nghe giảng về quả báo tộ phước đều tự than rằng:

– Chúng ta học theo đạo tiên đã mấy năm mà chưa được chút kết quả nào, không bằng đàn khỉ chỉ đùa chơi làm phước mà được sinh thiên. Đạo của Phật quả thật vi diệu!

Bấy giờ năm trăm Bà-la-môn đảnh lễ Phật xin làm đệ tử. Đức Phật bảo:

– Lành thay! Hãy lại đây các Tỳ-kheo.

Năm trăm vị đó râu tóc liền tự rụng, thành tướng Sa-môn. Nhờ tu tập tinh tấn, chẳng bao lâu năm trăm vị ấy đều chứng quả A-la-hán.

2 – SỰ TRẢ QUẢ CỦA DÒNG HỌ THÍCH CA

Thuở xưa, đức Phật trú tại tinh xá nước Xá-vệ thuyết pháp cho các hàng trời người. Lúc ấy, con thứ hai của vua tên là Lưu Ly, hai mươi tuổi đem tùy tùng bức vua cha thoái vị phải lưu vong, và giết chết thái tử anh mình là Kỳ-đà rồi tự lên ngôi.

Có một tên quan ác tâm tên là Da-lợi tâu với vua Lưu Ly rằng:

– Vua lúc trước còn là Hoàng tử sang nước Xá-di bên ngoại từng bị dòng tộc Thích-ca mắng nhiếc. Lúc đó đại vương đã thề rằng: “Nếu ta làm vua sẽ hỏi tội này”. Nay thời cơ đã đến, binh mã hùng mạnh nên báo oán xưa.

Lưu Ly nghe lời, liền cho chuẩn bị binh mã, kéo sang nước Xá-di chinh phạt. Đức Phật có vị đại đệ tử thứ hai tên là Ma-ha Mục-kiền-liên. Ông thấy vua Lưu Ly định tàn sát nước Xá-di để trả thù xưa, sẽ giết hại bốn chúng đệ tử nên vô cùng thương xót. Ông liền đến chỗ Phật thưa rằng:

– Nay vua Lưu Ly vây đánh nước Xá-di, con nghĩ dân chúng vô tội sẽ chết oan, nên định đem bốn phương tiện cứu dân trong nước Xá-di.

1- Đem dân nước Xá-di để trên hư không.

2- Đem dân nước Xá-di giấu giữa biển.

3- Đem dân nước Xá-di giấu giữa núi Thiết Vi.

4- Đem dân nước Xá-di để ở giữa nước lớn phương khác, khiến vua Lưu Ly không biết chỗ của họ.

Đức Phật bảo:

– Này Mục-kiền-liên, ta biết ông có khả năng trí đức che chở cho dân nước Xá-di. Nhưng chúng sinh có bảy việc không thể tránh khỏi. Bảy việc đó là gì? Một là sinh, hai là già, ba là bệnh, bốn là chết, năm là tội, sáu là phước, bảy là nhân duyên. Bảy điều này dầu lòng ta muốn tránh nhưng không thể được. Dầu oai thần của ông có thể làm được chuyện đó nhưng túc nghiệp, tội lỗi làm sao tránh được?

Mục-kiền-liên lễ Phật lui ra, nhưng vẫn theo ý riêng đem bốn năm ngàn người tín chủ tri thức đựng trong bát đặt ở khoảng giữa các tinh tú trên hư không. Vua Lưu Ly đánh nước Xá-di, giết khoảng ba ức người rồi kéo quân về nước.

Lúc đó, Mục-kiền-liên đến chỗ Phật đảnh lễ, rồi tự hào thưa:

– Vua Lưu Ly đánh nước Xá-di, đệ tử thừa oai thần Phật cứu bốn năm ngàn người nước này. Nay những vị đó ở trên hư không đều được thoát nạn.

Đức Phật hỏi:

– Ông đã đến xem người trong
bát chưa?

Đáp:

– Dạ chưa!

Đức Phật bảo:

– Ông hãy xem người trong bát
trước đã.

Mục-liên vâng lời, dùng đạo lực đem bát xuống xem, không ngờ tất cả đều đã chết hết. Mục-kiền-liên buồn thương rơi lệ, trở lại  chỗ Phật thưa:

– Tất cả người trong bát đều chết cả! Oai lực thần thông không thể cứu họ thoát khỏi nghiệp tội đời trước.

Đức Phật bảo Mục-kiền-liên:

– Bảy việc mà ta đã nói trước dù Phật, Thánh chúng, thần tiên, đạo sĩ có oai lực ẩn mình, phân thân song cũng không thể tránh được.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Dầu hư không, biển cả

Hay núi đá xa xôi

Không nơi nào tránh khỏi

Quả ác nghiệp gây rồi.

Chúng sanh bị não hại

Lão tử nghiệp trả vay

Bậc bi tri giải thoát

Không nhớ lỗi lầm ai.

Đức Phật thuyết pháp xong, vô số người trong pháp hội hiểu được lẽ vô thường, đều buồn thương trước việc không thể tránh khỏi tội báo, hoan hỉ chứng quả Tu-đà-hoàn.

PHẨM THỨ HAI MƯƠI

ĐAO TRƯỢNG

1 – PHẬT TẮM RỬA CHO MỘT TỲ KHEO BỆNH

Thuở xưa có một nước tên là Hiền Đề. Trong nước có vị trưởng lão Tỳ-kheo thường đau yếu luôn, nằm liệt trên giường, gầy ốm nhơ bẩn. Thế mà trong tinh xá không có một ai trông nom săn sóc cho ông. Đức Phật dẫn năm trăm vị Tỳ-kheo đến đó, sai các vị ấy chăm nom, nấu cháo cho trưởng lão Tỳ-kheo. Nhưng ai nghe mùi hôi thối của vị ấy đều nhờm tởm không dám đến gần.

Đức Phật sai Đế-thích lấy nước nóng, còn Phật tự tay tắm rửa cho vị Tỳ-kheo ấy. Lúc đó đại địa rúng động rực rỡ hào quang ai thấy cũng kinh ngạc. Vua và thần dân, thiên long quỷ thần đông đảo vô số đồng đến chỗ Phật đảnh lễ, bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, Ngài là bậc tôn quí trong đời, đầy đủ phước đức trí tuệ trong ba cõi không ai sánh bằng, sao lại hạ mình tắm rửa cho vị Tỳ-kheo già bệnh, thân thể hôi nhơ này?

Đức Phật bảo với vua và chúng hội:

– Như Lai sở dĩ xuất hiện ra đời chính vì những người khổ ách không ai giúp đỡ như thế. Nếu ai cúng dường những Sa-môn đạo sĩ bệnh tật và những người già cả cô độc bần cùng sẽ được phước vô lượng, sở nguyện như ý, như nước năm sông chảy vào biển cả, phước này cũng mênh mông như vậy. Người ấy công đức sẽ dần dần viên mãn rồi được đắc đạo.

Vua bạch với Phật rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, vị Tỳ-kheo này đời trước gây tạo tội nghiệp gì mà nay phải chịu bệnh khổ, nhiều năm thuốc men mà vẫn không thuyên giảm?

Đức Phật nói với vua:

– Thuở xưa có một ông vua tên là Ác Hạnh, dùng chính sách nghiêm bạo để trị dân. Ông giao quyền cho một người võ sĩ tên Ngũ Bách lo việc đánh đập tra khảo tù nhân. Ngũ Bách dựa vào oai thế vua mà theo ý riêng tra khảo. Trước khi đánh đạp Ngũ Bách đòi lo lót tiền bạc, nếu ai có sẽ được đánh nhẹ, nếu ai không có sẽ bị đánh đạp tàn nhẫn. Nhân dân cả nước ai cũng sợ ông. Lúc ấy, có một vị hiền giả bị người vu khống mắc tội, lúc sắp chịu đánh đập tra khảo, người ấy nói với võ sĩ rằng:

– Tôi là đệ tử Phật vốn không có làm điều chi lầm lỗi, chỉ bị người vu oan, xin các ông hãy khoan thứ.

Ngũ Bách nghe nói là đệ tử Phật nên nhẹ tay đánh sớt qua thân. Về sau Ngũ Bách chết, đọa vào địa ngục chịu đánh đập hành khổ, đến khi báo tận đọa vào súc sinh hơn năm trăm đời đều bị đánh đập hành hạ. Khi hết tội sinh vào loài người thường yếu đuối bệnh hoạn thống khổ.

Vua nước ấy nay chính là Điều Đạt, người võ sĩ Ngũ Bách nay chính là vị Tỳ-kheo bệnh tật này, còn vị hiền giả chính là thân ta. Ta đời trước được ông ấy nhẹ tay đánh không trúng thân, nên đời nay ta đáp lại tự tay tắm rửa cho ông. Người gây tạo thiện ác thì phước họa sẽ theo chân, dầu trải qua bao lần sinh tử vẫn không tránh được.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đánh đập người lương thiện

Vu báng kẻ vô tội

Sẽ mắc mười tai họa

Đến chết cũng không thôi.

Một sống rất khổ sở

Hai thân thể tật nguyền

Ba bệnh tật triền miên

Bốn loạn ý hoảng hốt.

Năm bị người vu báng

Sáu mắc nạn quan nha

Bảy tài sản tan nát

Tám thân thích lìa xa.

Chín nhà cửa tài sản

Bị lửa cháy tiêu tan

Mười là sau khi chết

Phải đọa vào địa ngục.

Lúc đó, vị Tỳ-kheo bệnh nghe Phật kể lại túc mạng và nghe được bài kệ này, tự biết việc làm sai lầm thuở trước nên nhiếp niệm tự trách lấy mình, ngay trước Phật bệnh tật dứt sạch, thân an ý định liền chứng quả A-la-hán. Vua nước Hiền Đề hoan hỉ tin hiểu, xin thọ Ngũ giới làm Phật tử tịnh tín, suốt đời tu hành, đắc được quả Tu-đà-hoàn.

2 – CÚNG TẾ QUỶ THẦN KHÔNG BẰNG GIỮ TRAI GIỚI

Thuở xưa, đức Phật thuyết pháp cho các hàng trời người ở tinh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc nước Xá-vệ, phía đông nước này có một nước tên là Uất-đa-la-ba-đề. Nơi đây có năm trăm vị Bà-la-môn kéo nhau đến sông Hằng vì nghe nói bên bờ sông có ba cái ao thờ thần nên định tắm nước nơi đó để rửa sạch cấu uế, rồi khỏa thân tu theo pháp của bọn Ni-kiền.

Đi giữa đường họ gặp một cái đầm lớn, lạc lối không làm sao qua được, lại thiếu thốn lương thực. Họ từ xa bỗng trông thấy một cội cây to như có thần khí, tưởng rằng có người ở nên chạy đến bên gốc cây, song chẳng thấy ai cả. Năm trăm Bà-la-môn lớn tiếng than khóc, cho rằng chắc sẽ đói khát chết tại đầm này. Thọ thần liền hiện ra hình người đến hỏi các Phạm Chí:

– Đạo sĩ các vị từ đâu đến và định làm gì?

Cả nhóm đồng thanh đáp:

– Chúng tôi định đến ao nước thần tắm rửa cầu tu đạo tiên. Nay lạc đường đói khát xin nhờ ông thương xót cứu giúp cho.

Thọ thần liền duỗi tay, trăm món ăn uống ngon lành từ đó hiện ra. Mọi người được ăn một bữa no nê. Số thức ăn còn thừa đủ để mang theo ăn dọc đường. Lúc sắp ra đi các Bà-la-môn đến chỗ thần
hỏi thăm:

– Ngài trước đây tu đạo công đức gì mà được oai lực như vậy?

Thọ thần đáp:

– Tôi thuở trước ở nước Xá-vệ. Lúc đó trong nước có một đại thần tên là Tu Đạt. Ông ấy muốn cúng dường thức ăn cho Phật và chúng Tăng nên ra chợ mua sữa lạc. Vì không có ai xách, nên Tu Đạt tìm mướn tôi xách giùm. Về đến tinh xá ông lại nhờ tôi múc ra cúng dường. Sau khi làm xong, tôi nhân đó còn được nghe thuyết pháp. Tôi bỗng sinh tâm hoan hỉ, thọ trì trai giới, nên về nhà không ăn cơm. Vợ tôi lấy làm lạ hỏi:

– Ông giận gì mà không ăn cơm?

Tôi đáp:

– Tôi không giận gì cả. Hôm nay tôi đi chợ gặp trưởng giả Tu Đạt cúng dường thức ăn cho Phật nơi vườn nên tôi đến đó trì trai. Trai gọi là bát quan trai.

Người vợ nghe nói nổi giận bảo:

– Ông Cù-đàm làm loạn lẽ thường, đâu đáng cho ông theo! Ông bỏ cả truyền thống thì sẽ gặp tai họa.

Người vợ cứ cằn nhằn thúc ép mãi, cuối cùng tôi xiêu lòng ăn cơm với vợ.

Đêm đó thọ mạng tôi hết, lâm chung vào lúc giữa đêm, thần thức thác sinh vào chỗ này. Vì người vợ ngu si phá hoại trai pháp của tôi, nên tôi mang nghiệp không giữ trọn vẹn, phải thác sinh làm thọ thần nơi đầm này. Nhờ phước mang sữa lạc cho đức Phật nên tay có thể hiện ra các món ăn uống. Nếu tôi giữ trai pháp trọn vẹn sẽ được sinh thiên, hưởng mọi an lạc.

Thọ thần liền nói kệ rằng:

Cầu cúng gieo mầm họa

Lần lần lớn cành lá

Chỉ khổ, hại bản thân

Trai pháp, tiên độ thế.

Các Phạm Chí nghe xong hết mê lầm, tin nhận, cùng nhau trở về sang nước Xá-vệ. Trên đường họ đi ngang một nước tên là Câu-lam-ni. Trong nước có một vị trưởng giả tên Mỹ Âm hay làm phước giúp đỡ mọi người, ai ai cũng tôn kính. Các Phạm Chí ghé qua nhà ông nghỉ đêm. Trưởng giả hỏi:

– Các đạo sĩ từ đâu đến? Giờ định đi về đâu?

Các Phạm Chí thuật lại công đức của thọ thần, tỏ ý muốn qua nước Xá-vệ đến chỗ ông Tu Đạt thọ trì trai pháp mong được phước đức.

Mỹ Âm nghe xong vô cùng hoan hỉ, căn lành thuở trước dấy khởi, tin hiểu Phật Pháp. Ông bèn thông báo gia tộc ai muốn thì cùng đi theo thọ trai giới. Tất cả có năm trăm người xin theo, oai nghi trang nghiêm cùng nhau đến nước Xá-vệ. Chưa đến tinh xá Kỳ-Hoàn, giữa đường đoàn người gặp Tu Đạt, song không biết nên hỏi người đi theo ông:

– Đây là ai vậy?

Đáp rằng:

– Đó chính là Tu Đạt!

Phạm Chí và tất cả mọi người đều hoan hỉ, vội đuổi theo Tu Đạt nói:

– Nguyện vọng của chúng tôi thành rồi. Tìm gặp được người cần tìm, nên đuổi theo để ra mắt.

Rồi mọi người thuật lại đầy đủ việc gặp thọ thần và nghe thọ thần kể chuyện ra sao, xong lại tiếp:

– Thọ thần tán thán công đức của ông, nên chúng tôi đến để theo học. Xin hãy dừng xe chỉ dạy cho chúng tôi trai pháp.

Tu Đạt đáp rằng:

– Các vị mong cầu điều thiện lớn. Tôn sư của tôi là đức Như Lai luôn giúp đỡ và độ thoát cho mọi người. Nay Ngài đang ở tinh xá Kỳ Hoàn rất gần, chúng ta hãy cùng nhau đến đó.

Nghe xong tất cả đều cùng Tu Đạt đến tinh xá Kỳ Hoàn. Các Phạm Chí xa xa trông thấy đức Như Lai đều hoan hỉ khôn xiết vội đảnh lễ sát đất, lui về một bên rồi quỳ bạch Phật rằng:

– Chúng con ban đầu rời nhà định đến ba ao thần tắm rửa cầu đạo tiên. Trên đường gặp thọ thần kể lại mọi việc, nên đến đây xin tu học theo Ngài. Xin đức Như Lai khai thị cho pháp vi diệu tối thượng.

Bấy giờ đức Thế Tôn dựa theo hạnh nghiệp của họ mà nói kệ:

Dầu khỏa thân, cắt tóc

Mặc mãi áo cỏ gai

Tắm gội hay ngồi xổm

Sao hết được nghi hoặc?

Không đánh giết, thiêu đốt

Cũng không lấn lướt ai

Từ bi với mọi loài

Đến đâu cũng không oán.

Năm trăm Phạm Chí nghe kệ hoan hỉ, xin làm Sa-môn đắc được quả A-la-hán. Còn Mỹ Âm và thân tộc chứng được Pháp nhãn.

Các Tỳ-kheo bạch Phật rằng:

– Năm trăm Phạm Chí và các ông trưởng giả đời trước tu đạo công đức gì mà nay mau chóng đạt đạo?

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Trong thuở quá khứ lâu xa, có đức Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Ngài thuyết pháp cho các hàng đệ tử về đời ngũ trược vị lai. Lúc đó có một ngàn Phạm Chí và trưởng giả nghe xong đồng phát nguyện: “Chúng con nguyện gặp đức Phật Thích-ca Văn”. Các ông Phạm Chí thuở đó nay chính là các ông Phạm Chí này. Còn các vị trưởng giả thuở đó là nhóm trưởng giả Mỹ Âm hiện nay. Do nhân duyên này họ gặp được ta liền giác ngộ.

Các Tỳ-kheo nghe xong hoan hỉ làm lễ y giáo phụng hành.

QUYỂN THỨ BA

PHẨM THỨ HAI MỐT

DỤ LÃO MẠO

1 – PHẬT QUỞ BẢY VỊ SA MÔN GIÀ

Thuở xưa đức Phật trú tại tinh xá Kỳ Thọ nước Xá-vệ. Một hôm, thọ thực xong, đức Phật thuyết pháp cho các hàng trời người, quốc vương, thần dân bốn bộ đệ tử. Lúc ấy, có bảy vị trưởng lão Bà-la-môn từ phương xa đến chỗ Phật đảnh lễ, chắp tay bạch rằng:

– Chúng con ở xa, từ lâu được nghe danh giáo hóa của bậc Thánh muốn đến quy mạng. Song vì nhiều duyên sự trở ngại, mãi hôm nay mới đến được để chiêm ngưỡng tôn dung. Chúng con xin được làm đệ tử, tu học chấm dứt các khổ.

Đức Phật chấp nhận cho các vị ấy xuống tóc làm Sa-môn và dạy ở chung một phòng. Nhưng bảy vị này gặp được Thế tôn cho là có thể bảo đảm đắc đạo, không lo tư duy vô thường, ngồi chung trong phòng chỉ nghĩ việc đời hoặc trò chuyện cười đùa với nhau. Họ không biết mạng sống của mình chẳng còn bao lâu, tâm ý mê mờ bởi những buộc ràng trong ba cõi.

Đức Phật với tam đạt trí biết mạng sống của bảy vị này sắp hết. Ngài thương xót bèn đến phòng họ bảo rằng:

– Các ông học đạo nên cầu giải thoát, sao lại đùa cười lớn tiếng như vậy.Tất cả chúng sinh đều cậy vào năm việc. Đó là những gì?

1- Cậy vào tuổi trẻ.

2- Cậy vào sắc đẹp

3- Cậy vào sức mạnh.

4- Cậy vào tài sản giàu có.

5- Cậy vào dòng họ sang quí.

Các ông thì thầm nói chuyện, cười cợt lớn tiếng là cậy vào điều gì?

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Có gì vui, gì cười

Hãy nhớ đang thiêu đốt

Che lấp trong tối tăm

Chi bằng cầu chánh định.

Thấy thân hình tốt đẹp

Dựa vào cho là an

Tham đắm đưa đến khổ

Đâu biết nó vô thường.

Già nhan sắc suy hao

Bệnh thân thể tiều tụy

Da nhăn và thịt nhão

Cái chết đã cận kề!

Thân chết thần đi khỏi

Như lái xe bỏ xe

Xương thịu sẽ rã rời

Thân đâu nương cậy được.

Đức Phật nói kệ xong, bảy vị Tỳ-kheo giác ngộ, không còn vọng tưởng, chứng A-la-hán ngay trước Phật

2 –GIÀU SANG KHÔNG BỐ THÍ CHỊU QUẢ BÁO NGHÈO KHỔ

Thuở xưa đức Phật trú tại tinh xá nước Xá-vệ, vì hàng trời người đế vương thuyết pháp. Lúc ấy, có một thôn Bà-la-môn gồm hơn năm trăm gia đình. Thôn ấy có năm trăm thiếu niên học pháp thuật Bà-la-môn, tánh tình kiêu mạn cống cao bất kính với các bậc trưởng lão.

Một hôm, năm trăm người này bàn luận với nhau:

– Ông Sa-môn Cù-đàm tự xưng là Phật, đủ tam minh trí tuệ, không ai dám luận biện. Chúng ta thử mời ông luận nghị, cật vấn mọi điều xem sao?

Nói xong họ bèn lo sắp xếp đầy đủ mọi chuyện, đi mời Phật về làng.

Đức Phật nhận lời cùng các đệ tử đến thôn Phạm Chí. Sau khi đã an tọa các Phạm Chí bèn dâng nước rửa chân tay, rồi thiết trai thỉnh Phật và đệ tử thọ dụng. Thọ trai xong họ lại mang nước đến cho Phật và đại chúng rửa tay, mọi việc rất chu đáo.

Lúc ấy, có hai vợ chồng Phạm Chí già đang đi xin giữa thôn, đức Phật biết ông Phạm Chí đó vốn giàu có vô số, từng làm quan lớn. Ngài bèn hỏi các Phạm Chí này:

– Các ngươi có biết ông Bà-la-môn lớn tuổi kia không?

Mọi người đều đáp:

– Có biết.

Phật lại hỏi:

– Ông ta trước đây là người như
thế nào?

Đáp:

– Ông ấy vốn là quan lớn, tài sản nhiều vô số.

Hỏi:

– Vậy sao ngày nay ông ta phải đi
ăn xin?

Đáp:

– Do ông ăn xài hoang phí, không có độ lượng, nên phải chịu nghèo.

Đức Phật bảo:

– Này các Bà-la-môn, trên đời có bốn việc mà người ta không biết làm theo. Nếu biết làm theo thì sẽ được phước không bị nghèo cùng như vậy. Bốn việc đó là gì?

1- Tuổi trẻ khỏe mạnh, cẩn thận chớ nên kiêu mạn.

2- Tuổi già siêng năng, không có
tham dâm.

3- Có tiền bạc châu báu thường nghĩ bố thí.

4- Theo thầy học tập, biết nghe nhận lời chân chánh.

Ông Bà-la-môn lớn tuổi không thực hành theo bốn việc trên. Đây gọi là không biết xét đến lẽ thành bại, nên một mai phải chịu cảnh tán gia bại sản. Ví như con chim hộc già đứng canh giữa ao trống, không kiếm chác được chút gì.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Ngày đêm lười, kiêu mạn

Già chẳng bỏ được dâm

Có của không bố hí

Lời Phật chẳng để tâm.

Bốn món che ngăn này

Ai có họa tự gây

Than ôi khi già đến

Tiều tụy sẽ theo đây.

Tuổi trẻ được như ý

Đến già bị khinh khi

Đã không tu phạm hạnh

Của cải chẳng còn chi.

Già như chim hộc trắng

Canh giữ ao  trống vắng

Giới hạnh mình đã không

Của cải bàn tay trắng.

Già khí lực suy kiệt

Nghĩ lại làm sao kịp

Già như lá mùa thu

Lại nhơ rách hạnh tu

Mạng sống qua mau chóng

Hối hận nào kịp đâu.

Đức Phật lại bảo các Phạm Chí:

– Trên đời có bốn khoảng thời gian mà ta có thể hành đạo, được phước đắc độ, tránh khỏi các khổ. Đó là bốn thời điểm nào?

1- Lúc tuổi trẻ có sức khỏe, oai thế.

2- Lúc giàu sang có tài sản.

3- Lúc gặp được Tam bảo  phước điền.

4- Lúc quán xét được lẽ vô thường của vạn vật, sinh tâm nhàm chán.

Nếu vào bốn thời điểm trên, biết nỗ lực làm việc, tiến tu thì sẽ thành tựu mọi sở nguyện, chứng đắc đạo quả.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại nói kệ:

Ngày đêm mạng lần giảm

Nên tinh tấn kịp thời

Thế gian vô thường lắm

Đừng mê đọa tối tăm.

Hãy thắp sáng ý thức

Huấn luyện mình, cầu tuệ

Thanh tịnh, lìa trần cấu

Cầm đuốc soi đường mê.

Lúc Phật đang nói, liền phóng hào quang chiếu khắp đất trời, năm trăm Phạm Chí thiếu niên nhân đó tâm ý khai mở, lông tóc dựng đứng, cùng nhau đảnh lễ dưới chân Phật, bạch rằng:

– Chúng con xin quy mạng với đức Thế Tôn, xin hãy nhận chúng con làm
đệ tử.

Phật bảo:

– Lành thay! Hãy lại đây các Tỳ-kheo!

Các vị ấy liền trở thành Sa-môn, chứng đắc đạo quả A-la-hán. Kẻ lớn người nhỏ trong làng đều ân triêm pháp nhũ, thấy được đạo ai cũng hoan hỉ.

PHẨM THỨ HAI HAI

ÁI THÂN

1 – MA HA LƯ ĐƯỢC PHẬT ĐỘ

Thuở xưa, có một nước tên là Đa-ma-la. Cách kinh thành bảy dặm có một ngôi tinh xá. Đây là nơi tu học hành đạo của năm trăm vị Sa-môn. Trong đó có một vị trưởng lão Tỳ-kheo tên là Ma-ha-lư, tâm tánh ám độn, được năm trăm vị Tỳ-kheo dạy bảo, vậy mà suốt mấy năm liền vẫn không nhớ được một bài kệ. Trong chúng ai cũng khinh khi, không thèm ở chung. Do vậy vị trưởng lão Tỳ-kheo ấy chỉ coi giữ tinh xá, được sai bảo quét dọn trong ngoài.

Một hôm, nhà vua cung thỉnh các thầy Tỳ-kheo vào cung cúng dường. Tỳ-kheo Ma-ha-lư tự nghĩ rằng: “Ta sinh ra ngu độn, một bài kệ cũng không biết bị người khinh khi, vậy sống có ích gì?”.

Nghĩ xong, ông mang dây ra gốc cây sau vườn định treo cổ tự tử. Đức Phật với đạo nhãn ở xa thấy việc như vậy, bèn hóa ra vị thần cây, hiện nửa thân người mà can ngăn:

– Này Tỳ-kheo kia, sao lại làm thế?

Ma-ha-lư liền trình bày nỗi khổ tâm của mình.

Thọ thần quở trách:

– Ông không nên làm như vậy, hãy nghe lời ta. Thuở đức Phật Ca-diếp tại thế, ông là vị Tam tạng Pháp sư có năm trăm đệ tử. Song do vì ỷ mình thông minh, khinh chê kẻ khác, lại lẩn tiếc kinh nghĩa không chịu dạy bảo cho người, nên về sau đời đời sinh ra chỗ nào các căn cũng đều ám độn. Vì vậy ông chỉ nên tự trách mình, mà không nên tự sát.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền hiện lại thân tướng quang minh, hào quang tỏa chiếu, rồi nói kệ rằng:

Người biết quí thân mình

Cẩn thận luôn giữ gìn

Mong giải trừ các dục

Học đạo chẳng mê tình.

Thân người tối tôn quí

Nên là bậc có trí

Thường gắng tự tiến tu

Và siêng hành pháp thí.

Tu trước phải sửa mình

Sau mới độ chúng sinh

Điều thân, thâm nhập tuệ

Vượt hơn kẻ phàm tình.

Mình còn chưa lợi ích

Đâu hay lợi ích người

Tâm thuần, hạnh ngay thẳng

Nguyện thành tựu mười mươi.

Nếu trước ta gây tạo

Sẽ chịu quả về sau

Làm ác biết tự cải

Như kim cương sáng ngời.

Tỳ-kheo Ma-ha-lư thấy hào quang của Phật, vui buồn lẫn lộn, xen lẫn sợ sệt vội cúi mình làm lễ dưới chân Phật. Ông tư duy nghĩa lý bài kệ này rồi thoạt nhiên nhập định, chứng quả A-la-hán ngay trước Phật. Ông liền biết được mọi việc trong vô số kiếp quá khứ của mình, ba tạng kinh điển nhớ lại nằm lòng.

Đức Phật lại bảo:

– Này Ma-ha-lư, ông hãy đắp y mang bát vào cung vua thọ trai, ngồi trên năm trăm vị Tỳ-kheo. Năm trăm vị này vốn là đệ tử ông đời trước. Sau đó ông thuyết pháp cho họ được chứng đạo quả và khiến nhà vua tin hiểu được tội phước.

Ma-ha-lư liền vâng lời Phật dạy, đi thẳng vào cung, ngồi ở tòa trên. Mọi người ai cũng bực mình, lấy làm lạ trước việc như thế. Song vì họ chưa biết ý vua như thế nào, nên không dám khiển trách. Họ chỉ nghĩ ông này thật ngu tối bất thông, sao kham nổi việc thuyết pháp. Thọ trai xong, vua dọn dẹp thức ăn xuống, tự tay rót nước mời chư Tỳ-kheo.

Lúc ấy, Ma-ha-lư liền vì đại chúng thuyết pháp, thanh âm hùng dũng như sấm, lời lẽ thanh tao tuôn chảy như mưa. Các Tỳ-kheo nghe qua giật mình kinh sợ, hối hận vì đã nghĩ sai về ông. Các Tỳ-kheo nhân đó đều chứng quả A-la-hán. Nhà vua và bá quan được nghe giảng giải giáo pháp một cách rõ ràng, ai cũng chứng quả Tu-đà-hoàn.

2 – NĂM TRĂM PHẠM CHÍ  ĐƯỢC PHẬT ĐIỀU PHỤC

Thuở đức Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ có năm trăm Bà-la-môn luôn tìm Phật để phỉ báng. Đức Phật với trí tuệ tam minh, thông hiểu hết tâm tánh chúng sinh. Ngài thương xót muốn độ cho họ. Thật ra, quả chưa chín là do nhân duyên chưa đủ. Tất cả tội phước xảy đến chẳng qua do mình tự  tạo nhân duyên rồi tự nhận lấy quả báo. Những vị Phạm Chí này ngày nay đáng được độ là nhờ chút phước lành đời trước. Nhờ phước đức mới khiến họ được gặp duyên lành .

Lúc ấy, năm trăm ông Phạm Chí cùng nhau bàn rằng:

– Chúng ta nên xui tên đồ tể giết hại sinh vật đến thỉnh Phật và chư Tăng về nhà cúng dường. Phật ắt nhận lời và tán thán tên đồ tể. Chúng ta sẽ ra trước Phật chỉ trích chuyện này.

Bấy giờ, người đồ tể đến thỉnh Phật. Đức Phật hứa khả và nói với anh ta:

– Trái chín sẽ tự rụng, phước đến sẽ được độ. Người đồ tể trở về lo chuẩn bị bữa cúng dường. Đức Phật cùng các đệ tử vào xóm đồ tể đến nhà người thí chủ này. Các Phạm Chí thấy thế đều mừng rỡ, cho là hôm nay đã nắm được nhược điểm của Phật! Nếu Phật tán thán phước đức của thí chủ thì họ sẽ đem đầu đuôi việc sát sinh của người đó ra chê bai. Nếu Phật nói do lai của tội lỗi, họ sẽ đem phước đức của ngày hôm nay ra vấn nạn. Cả hai đường đều bắt bẻ được, nên ai nấy đều lấy làm đắc ý.

Sau khi đến nhà đàn việt, an tọa, rửa chân tay, thọ trai xong, Phật quan sát tâm tánh mọi người thấy rằng có thể độ được, liền hiện tướng lưỡi rộng dài, phóng hào quang chiếu sáng khắp cả thành, rồi dùng Phạm âm nói kệ chú nguyện:

Người sống theo lẽ đạo

Y giáo, chẳng lãng xao

Kẻ ngu lại đố kỵ

Thấy vậy, ác hại nhau.

Gieo gống đắng, quả đắng

Nhân ác, tránh được chăng?

Làm ác chịu tội khổ

Tu thiện hưởng phước lành.

Thiện ác kết quả riêng

Nhân quả lý đương nhiên

Làm thiện sẽ được thiện

Gieo giống ngọt: vui yên.

Đức Phật nói kệ xong, năm trăm ông Phạm Chí tâm ý khai ngộ liền đến trước Phật phủ phục sát đất đảnh lễ, rồi chắp tay thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn, chúng con là những kẻ ngu si ngoan cố, trước giờ chưa hiểu được lời dạy của bậc Thánh. Nay xin Ngài hãy từ bi nhận chúng con làm Sa-môn.

Đức Phật hứa khả. Năm trăm vị đó xuất gia thành Tỳ-kheo. Già trẻ trong xóm làm nghề đồ tể thấy thần thông của Phật ai cũng hoan hỉ, đều được đạo quả. Từ đó người trong xóm được xưng là bậc hiền thánh không còn tên gọi đồ tể nữa.

PHẨM THỨ HAI BA

THẾ TỤC

PHẬT DẠY CHỨA CỦA BÁU NHIỀU KHÔNG BẰNG THẤY ĐẠO

Thuở xưa, có một vị vua dòng Ba-la-môn tên là Đa-vị-tả, phụng thờ chín mươi sáu thứ ngoại đạo. Bỗng một hôm vua phát khởi thiện tâm, muốn làm việc đại bố thí theo pháp Bà-la-môn. Vua cho chất của thất bảo nhiều như núi, rồi đem ra bố thí. Người nào đến xin được phép lấy một nắm thất bảo. Vua bố thí như vậy suốt mấy ngày mà số châu báu không giảm.

Đức Phật biết vị vua này được phước duyên đời trước có thể hóa độ. Ngài liền hóa thành một vị Phạm Chí đến nước đó. Vua thấy Phạm Chí đến liền ra đón tiếp. Sau khi chào hỏi xong vua bèn đứng
dậy nói:

– Ngài có yêu cầu điều gì xin cứ nói ra, chớ có nghi nan.

Phạm Chí thưa:

– Tôi từ xa đến, muốn xin châu báu để xây cất nhà cửa.

Vua đáp:

– Tốt lắm, ông hãy tự bốc lấy một nắm châu báu rồi đi.

Phạm Chí liền bốc lấy một nắm. Ông đi bảy bước rồi quay trở lại trả về chỗ cũ.

Vua hỏi:

– Sao ông không lấy?

Phạm Chí đáp:

– Bao nhiêu đây chỉ đủ xây nhà cửa thôi, nếu dùng để cưới vợ thì lại không đủ. Cho nên tôi không lấy.

Vua nói:

– Vậy ông hãy lấy ba nắm châu báu.

Phạm Chí liền y lời lấy ba nắm. Song ông đi cũng chỉ bảy bước, rồi quay lại trả.

Vua hỏi:

– Vì sao ông trả lại?

Phạm Chí đáp:

– Bao nhiêu đây chỉ đủ xây nhà, cưới vợ, song còn ruộng đất, nô tỳ, trâu ngựa thì không đủ để sắm. Vì vậy nên tôi không lấy.

Vua bảo:

– Vậy ông hãy lấy bảy nắm châu báu.

Phạm Chí lấy bảy nắm châu báu ra đi. Song cũng chỉ bảy bước, rồi trở lại trả.

Vua hỏi:

– Sao lại như vậy?

Phạm Chí đáp:

– Nếu có con trai con gái, phải dựng vợ, gả chồng cho nó, chi phí mọi chuyện tính ra số châu báu không đủ chi dùng, cho nên không lấy.

Vua bảo:

– Vậy ông lấy hết số châu báu này để chi dụng cho những việc trên.

Phạm Chí nhận lấy rồi lại đem bỏ đi. Vua vô cùng ngạc nhiên, hỏi ông tại sao. Phạm Chí thưa:

– Xưa nay kẻ ăn xin là để kiếm sống. Song xét kỹ ra, mạng người ở đời nào có bao lâu, vạn vật vô thường sớm còn tối mất. Nhân duyên càng nặng, ngày khổ lụy càng dài, của cải chứa đầy như núi không ích chi cho mình. Tham dục mưu đồ danh lợi uổng tự chuốc lấy khổ đau. Sao bằng dứt tâm tham cầu, học đạo vô vi. Tôi vì nghĩ suy như vậy cho nên không lấy.

Vua nghe được những lời này, tâm ý bỗng nhiên khai ngộ, nguyện vâng theo lời dạy sáng suốt này.

Lúc ấy Phạm Chí hiện lại thân Phật, quang minh rực rỡ bay vọt lên trụ giữa hư không vì vua nói kệ”

Thế gian đầy trân bảo

Chất đến tận trời cao

Vẫn không bằng thấy đạo

Giàu sang sánh được nào!

Bất thiện tưởng là thiện

Ái ngỡ như không ái

Lại lấy khổ làm vui

Chỗ kẻ ngu bị hại.

Bấy giờ quốc vương thấy hào quang Phật chiếu khắp đất trời, lại nghe bài kệ này nên vô cùng hoan hỉ. Vua và quần thần liền thọ Ngũ giới, đắc quả Tu-đà-hoàn.

PHẨM THỨ HAI BỐN

THUẬT PHẬT

PHÁP PHẬT KHÓ ĐƯỢC NGHE

Thuở xưa, đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề, hàng phục chúng ma, chứng thành đạo quả nơi đạo tràng Thiện Thắng nước Ma-kiệt-đà. Ngài tự tư duy rằng: “Chánh pháp cam lộ ngày nay đã thấm nhuần khắp tam thiên thế giới. Nhớ thuở xưa, lúc ta còn đang khổ tu, phụ vương đã sai năm người cúng dường các thứ ngũ cốc và hầu hạ ta rất có công lao. Nay ta nên trả ân cho họ.

Năm người này hiện nay ở nước Ba-la-nại. Cho nên đức Như Lai đứng dậy rời khỏi tòa đi đến nước đó. Đức Như Lai với tướng hảo trang nghiêm, từ quang tỏa chiếu khắp đất trời, oai thần chấn động khiến ai thấy cũng sinh lòng hoan hỉ. Trên